Top 10 Cuộc tranh biện nổi tiếng nhất trong lịch sử truyền hình Mỹ

10-02-2021 10 686 0 0

Báo lỗi

Tranh luận hay tranh biện là một quy trình gồm có tranh luận chính thức về một chủ đề cụ thể. Trong một cuộc tranh biện, những lập luận đối lập được đưa ra để tranh luận cho những quan điểm đối lập. Tranh luận xảy ra trong những cuộc họp công cộng, những tổ chức học thuật và những hội đồng lập pháp. Đây là một loại tranh luận chính thức, thường có người điều hành và khán giả, ngoài những người tham gia tranh luận. Gần đây, hai cái tên Donald Trump và Joe Biến đang làm nóng truyền hình và cả những social với cuộc tranh biện tổng thống của tôi, hấp dẫn lượng người xem kỷ lục. Vậy nước Mỹ còn có những cuộc tranh biện thú vị nào giống như như thế không. Hãy cùng Toplist tìm hiểu nhé.

12345678910

1


An Nguyễn

Kenedy vs Nixon

Năm 1960, John Kenedy và Richard Nixon đã gặp mặt trên đài CBS để thu hình buổi tranh biện giành chức tổng thống lần thứ nhất trong lịch sử Mỹ, từ đó thay đổi cả tính chất của chính trị Mỹ. Trước họ, những ứng cử viên tổng thống vẫn chưa từng đối mặt tranh biện khi nào. thuở đầu, người ta cho rằng Nixon có 9-5 phần thắng, thì Kenedy biến cuộc tranh biện trở thành lần lên sóng truyền hình gần gũi, một buổi tranh biện mở tích cực và mạnh mẽ, và là chiêu trò tuyệt vời và rẻ mặt để hấp dẫn công chúng. Nhóm nghiên cứu của Kenedy đã biến sức nóng của buổi tranh biện thành những giọt mồ hôi của Nixon theo nghĩa đen. Theo một phóng viên báo chí của tờ Chicago Tribune thì: [Những người ủng hộ Nixon] đã mong muốn ông ta nghiền nát Kenedy bằng một vài từ.” Nhưng Kendy đã tiến công mạnh mẽ: “Trong cuộc bầu cử năm 1860, Abraham Lincoln đã hỏi rằng liệu tổ quốc này hoàn toàn có thể tồn tại với cùng một nửa nô lệ và 1 nửa tự do không.

Trong một bầu cử năm 1960 và với toàn cầu quanh chúng ta, câu hỏi cần đưa ra là liệu toàn cầu hoàn toàn có thể tồn tại với cùng một nửa nô lệ và 1 nửa tự do không.” So sánh với vẻ ngoài tươi tắn và tràn đầy năng lượng của Kenedy, Nixon trông như hốc hác, mệt mỏi và nhếch nhác. Trong cuộc tranh biện sau đó, Nixon đã cố phản công, nhưng thiệt hại đã quá lớn. Nỗ lực này lại còn khiến Nixon sơ hở trước những đòn tiến công vô lý, như việc những người bạn của Kenedy, Thượng nghị sĩ Lyndon Johnson, người đã cáo buộc những ứng cử viên Đảng Cộng hòa bỏ qua những vấn đề nghiêm trọng tác động tới an ninh vương quốc. “Ông đã che giấu những lỗ hổng bằng thứ thuốc ngủ yên bình”, đó là lời Johnson. Mặc dù Nixon đã cải thiện trong những cuộc tranh biện sau đó, nhưng Kenedy đã loại đối thủ của tôi bằng thắng lợi sát sao, mà phần nhiều là nhờ công cuộc tranh biện thứ nhất giữa họ.

Kenedy vs Nixon


2


An Nguyễn

Baldwin vs. Buckley

Tác giả người Mỹ gốc Phi James Baldwin và nhà yêu nước William F. Buckley Jr. gặp nhau tại ĐH Cambridge năm 1965 để tranh biện “giấc mơ Mỹ có là cái giá đắt cho người da đen tại Mỹ”. Buckley là người phản đối trào lưu đòi dân quyền, một quan điểm được ông đưa lên tờ National Review mà mình sáng lập và có sức tác động lớn, trong lúc Baldwin được coi là đại diện phát ngôn cho trào lưu người da đen ưu tú. Baldwin ngay lập tực được tạo được chỗ đứng vững chắc dù không quen thuộc với lối tranh biện trong trường học. Ông chỉ trích gay gắt hệ thống tẩy chay chủng tộc của Hoa Kỳ, nhưng cũng bày tỏ lòng cảm thông cho việc tại sao người da trắng lại bị cuốn vào nó: “Những người da trắng ở Nam phi hay những người làm thuê ở Mississippi hay cảnh sát Alabama là những kẻ nằm dưới đáy hệ thống đã buộc họ tin rằng họ phải đối đầu với người da màu, rằng người phụ nữ này, người đàn ông này, đứa trẻ này phải điên rồi nên mới tiến công hệ thống cho anh ta toàn bộ những gì mình có.”

Baldwin cũng đưa ra một chiếc bẫy cho Buckley, người có vẻ như không để ý tới phần lớn lời tranh biện của tôi. Buckley lập tức phủ nhận và chuyển sang công kích cá nhân: “Không thể nào đánh giá được hàng loạt cáo trạng mà ông Baldwin đưa ra, trừ khi người chuẩn bị xử lý chúng là một người da trắng, trừ khi có người chuẩn bị nói với ông ta rằng thực tại màu da đen của ông hoàn toàn không liên quan gì tới lý luận ông vạch ra”. sau cuối, gần như toàn bộ học viên da trắng đã trao chiến thứng cho Baldwin, 544 và 164.

Baldwin vs. Buckley

3


An Nguyễn

Buckley vs. Vidal

Nhiều người xem cuộc tranh biện năm 1968 giữa tác giả cánh tả Gore Vidal và khúc củi cháy dở Buckley Jr. vào thời điểm đó đã bùng cháy với nhiệt huyết và lời hùng biện đẫm máu. Trong một nền tảng bất ổn xã hổi và chính trị nghiêm trọng, 10 cuộc tranh biện đã ra mắt giữa đảng Cộng hòa và đảng Dân chủ. Nhưng cuộc tranh biện thứ 9 tại Chicago là một trong những điểm nhấn đáng giá nhất về truyền hình chính trị Mỹ tới thời điểm đó. Vidal và Buckley không hề che giấu họ ghét bỏ nhau thế nào. Vidal cố tóm đuôi Buckley bằng phương pháp chụp mũ ông ta đó là tạo hình mẫu cho nhân vật chuyển giới Myra Breckinridge. trong lúc đó, Buckley chế giễu kịch bản thất bại của Vidal và đưa ra một lời nhắn từ Robert F. Kennedy rằng Vidal nên được đưa tới Việt Nam. Mọi thứ trở thành cực kỳ gay gắt khi chủ đề chuyển tới sự tàn bạo của cảnh sát với những người biểu tình, những người Buckley đã lập luận rằng tự mang rắc rối cho mình bằng phương pháp hô vang những lời tục tĩu và khẩu hiệu ủng hộ Việt Cộng.

Người chủ trì Howard K. Smith hỏi Vidal, “Đây có phải hành động khiêu khích khi người ta giương cờ Việt Cộng lên ở công viên như chúng ta vừa thấy không? Nếu thế… chẳng phải là việc giơ cờ Đức Quốc xã lên trong Thế Chiến II sẽ mang lại hệ quả giống như?” Vidal đáp rằng dù ông ủng hộ quyền công dân Mỹ hoàn toàn có thể tự do phản đối, nhưng Việt Cộng cũng đều có quyền quản lý tổ quốc theo cách họ cho là thích hợp. Buckley phản đối rằng nhiều người Mỹ ủng hộ Đức Quốc xã trước và trong Thế Chiến II và đã bị lên án vì quyết định của tôi. Vidal lạnh lùng cắt ngang, “Theo như tôi thấy, thì kẻ ủng hộ Đức Quốc xã thầm lặng duy nhất tôi nghĩ tới được đó là ông.” Nổi điên, Buckley chồm dậy và quát lên, “Nghe đây, đồ bóng, đừng có bảo tao ủng hộ Đức Quốc xã, không thì tao sẽ đập nát cái mặt mày phẳng lỳ ra đó”. Sau đó, Buckley hối hận vì mất tự chủ vì mình đã lọt vào tròng của Vidal. trong lúc cuộc tranh biện gây sốc vào thởi điểm đó, nó cũng rất là hài hước và khiến những cuộc tranh biện chính trị vốn khô cứng trở thành một chương trình giải trí truyền hình.

Buckley vs. Vidal
Buckley vs. Vidal

4


An Nguyễn

Carter vs. Ford 1976

Sau trận đánh định mệnh giữa Kenedy và Nixon, phải 16 năm sau mới có cuộc tranh biện giữa những ứng cử viên tổng thống lần nữa. Mặc dù những cuộc tranh biện trên truyền hành trở thành tiêu chuẩn mới trong những cuộc đua chính trị, nhưng hướng dẫn của FCC khiến tranh biện giữa những ứng cử viên tổng thống khó lòng xảy ra muốn thế đài truyền hình vương quốc phải danh một khoảng thời gian như nhau cho toàn bộ những ứng cử viên, chứ không chỉ có vài người nổi trội. Năm 1975, điều đó được thay đổi khi FCC quyết định rằng cuộc tranh biện phát sóng trực tiếp không cần tài trợ bởi đài cuyển hình là chương trình hợp pháp, và hoàn toàn có thể được triển khai bởi những đài chuyền hình mà không nhất thiết phải dành thời gian cho mọi ứng cử viên. Điều này khiến tranh biện giành quyền tổng thống trở thành một sự bắt buộc, tạo ra sân khấu cho cuộc gặp giữa tổng thống thuộc đảng Cộng hòa Gerald Ford và đối thủ đảng Dân chủ Jimmy Carter. Cuộc tranh biện khá là nhạt nhẽo và đầy những phút lỡ lời và những rắc rỗi kỹ thuật. Khi Carter noi về sự kiện Watergate làm giảm niềm tin vào chính phủ Mỹ, mic của cả hai ứng cử viên đột ngột bị ngắt. Tuy nhiên, Carter vẫn tiếp tục nói vì không nhận thấy.

Sau đó, trong 27 phút tiếp theo, cả hai ứng cử viên đứng như tượng trên bục để chờ hệ thống âm thanh hoạt động lại. Nhận thức sâu sắc giọt mồ hôi của Richard Nixon đã gây ra hậu quả thế nào, cả hai ứng cử viên đều không muốn tỏ ra lo lắng hay khó chịu vì sự cố này. Trên thực tại, họ đều trông kỳ cục và cứng nhắc. Khi cuộc tranh biện khởi động lại, Jimmy Carter được hỏi về ông liệu có đồng ý reply phỏng vấn cho tạp chí Playboy không trong lúc ông là lý lịch Thiên Chúa của tôi. Ông đã bình tĩnh xử lý câu hỏi này, chỉ ra rằng rất nhiều chính trị gia khác đã nhận được những buổi phỏng vấn như vậy. Tuy nhiên, ông cũng thừa nhận là ông không nên nhận những cuộc phỏng vấn như thế. Người dẫn chương trình Max Frankel hẳn đã vui mừng, khi Ford không được chuyên nghiệp bằng khi để lỡ lời khi ông ta phủ nhận rằng Sô Viết đang xâm chiếm Đông Âu. Câu reply kỳ lạ đó đã khiến Ford có vẻ không đáng tin khi nhắc tới những chính sách đối ngoại và góp phần vào thất bại trong cuộc bầu cử của ông. Cuộc tranh biện tổng thống năm 1976 không cho thấy ứng cử viên nào thoải mái cả, mà còn tương đối vụng về, trái ngược hoàn toàn với cách bộ máy chính trị trơn tru điều hành những cuộc tranh biện hiện thời.

Carter vs. Ford 1976

5


An Nguyễn

comment The Day After 1983

Năm 1983, bộ phim của đài ABC The Day After khám phá những tác động của chiến tranh hạt nhân đối với Hoa Kỳ. Đó là một năm căng thẳng vì chiến tranh lạnh với những hậu quả quả nó, khủng hoảng rủi ro ngoại giao, tăng thêm hoả tiễn, sự xuất hiện của những nhà lãnh đạo chính trị Ronald Reagan và Mikhail Gorbachev. Theo đài phát sóng bộ phim, hãng ABC News sản xuất chương trình Viewpoint khám phá những vấn đề toàn cầu thực sự liên quan tới bộ phim. Khách mời là một Chuyên viên về lĩnh vực này, gồm có Cựu Ngoại Trưởng Henry Kissinger, người đoạt giải Nobel Hòa Binh Elie Wiesek, người vừa được nhắc tới phía trên William F. Buckley Jr, khoa học gia Carl Sagan, Cựu Cố vấn an ninh vương quốc Brent Scowcroft, và Thư ký bộ Quốc Phòng Robert McNamara. Ngoài ra còn có những cuộc phỏng vấn ngắn với George Shultz, rồi Thư Ký Nhà Nước của Tổng thống Reagan.

Rất nhiều người trong số họ có những ý kiến không giống nhau hoàn toàn về vũ khí hạt nhân, và mục đích sử dụng tiềm tàng của chúng trong Chiến tranh lạnh. Sagan nhấn mạnh rằng chiến tranh hạt nhân gây nguy cơ quét sạch mọi sinh vật sống trên trái đất, một kịch bản còn tệ hơn những gì được vẽ ra trong phim. Một vài người khác, đặc biệt là Buckley, chỉ trích bộ phim về cái nhìn một chính trị với định kiến nhằm mục đích cổ vũ cho một số quan điểm nhất định. Mỗi người trong số họ đều đề cập tới chủ đề theo góc độ không giống nhau, khiến cuộc tranh biện trở thành thú vị giữa những trường phái lý luận về khả năng tận thế do hạt nhân.

comment The Day After 1983

6


An Nguyễn

Jackson vs. Falwell

Năm 1985, Mục sư Jerry Falwell và Mục sư Jesse Jackson gặp mặt trên ABC Nightline để tranh biện về vấn đề phân biệt chủng tộc ở Nam Phi và những chính sách liên quan của Mỹ. Vừa mới trở về từ Nam Phi, Falwell phản đối lệnh trừng phạt kinh tế với tổ quốc này, và muốn “hàng trăm ngàn con chiên Thiên Chúa mua vàng Krugerrand.” Ngược lại, Jackson lên án thảm họa phân biệt chủng tộc ở Nam Phi và ủng hộ lệnh trừng phạt với tổ quốc này. Cả hai người đều phản đối chính sách hiện hành, và họ đều có những ý kiến không giống nhau về sự việc Mỹ nên có hành động gì với tổ quốc này. Falwell lập luận rằng dù hệ thống phân biệt chủng tộc là tệ hại, nhưng việc giữ mối quan hệ kinh tế với Nam Phi rất quan trọng cho an ninh Mỹ và trận đánh chống chủ nghĩa cộng sản. Ông ta cho rằng trừng bạt kinh tế sẽ làm tổn hại xã hội người da đen hơn là những người da trắng tại Nam Phi. Jackson nói chính phủ Nam Phi đơn thuần là một chính phủ phát xít, trong lúc chính sách phân biệt chủng tộc là “trái ý chúa và vô đạo phản dân tộc và phản chính sách tự do”.

Mặc dù cả hai người thuở đầu đều hứa là sẽ tránh công kích cá nhân, nhưng khi cuộc tranh biện dần nóng lên thì họ không kiềm chế được nữa. Jackson đã nói “Thật thú vị, hóa ra ngài Falwell sau cuối đã tìm ra xã hội thiểu số mình hoàn toàn có thể giúp đỡ. Ngài không giúp đỡ được gì mấy cho xã hội thiểu số trên tổ quốc này. Falwell, ngài nên ủng hộ chính sách phân biệt chủng tộc tại Nam Phi tới khi nó kết thúc. Hiện ngài đang ủng hộ nó ngay trong lúc nó đang tồn tại”. Falwell tuyên bố Chúa đã cứu ông ta khỏi nạn phận biệt chủng tộc, nhưng lại nói, “Tôi xin lỗi vì Mục sư Jackson vẫn tồn tại đấy nghĩ những người da trắng là kẻ xấu”. Falwell cáo cuộc Nelson Mandela (từng bị bỏ tù) vì có lòng thương hại cộng sản, tạo thời điểm để Jackson bật lại rằng Falwell đã từng nói điều giống như về Martin Luther King Jr. Sau màn ảnh, ABC TV nhận được lời hăm dọa sẽ giết chết Falwell, khiến Mục sư và những người đi theo ông phải ra về bằng đường hầm chứ không phải trên chiếc limousine đang đợi dưới đường.

Jackson vs. Falwell

7


An Nguyễn

Chomsky vs. Silber

Năm 1986, nhà ngôn ngữ học và triết học chính trị Noam Chomsky và hiệu trưởng ĐH Boston John Silber đã gặp nhau để tranh luận về sự tham gia của Mỹ tại Nicaragua trong cái gọi là giai đoạn “Iran-Contra”. Silber đảng cưc hữu có chân trong ủy ban Kissinger nơi thứ nhất xác định vấn đề an ninh vương quốc liên quan tới những trào lưu cách mạng ở Trung Mỹ. Chomsky duy trì một vị trí trung lập khi cho rằng sự can thiệp của Mỹ tại Trung Mỹ tượng trưng cho sự thất bại về đạo đức trong những nỗ lực của phương Tây nhằm kiểm soát và thống trị toàn cầu Thứ Ba. Theo Silber, hoạt động của Sandinista ở Nicaragua là một mối đe dọa đến an ninh vương quốc Mỹ vì Sandinista được hỗ trợ và trang bị với vũ khí của Liên Xô. Ông cũng lập luận rằng tội ác xảy ra ở Nicaragua phần lớn là vì hoạt động thảm sát người Miskito của Sandinista. Silber tin rằng mối đe dọa này hoàn toàn có thể được vô hiệu hóa mà không khiến nguy hiểm cho người Mỹ nếu họ hỗ trợ cho đảng cực hữu Contras. “toàn bộ những gì chúng ta phải làm là giúp trả tiền cho nhân viên cứu hỏa,” Silber nói. “Có một đám cháy đang xảy ra ở đó. Chúng ta không nhất thiết phải ra dập lửa. Nhưng chúng ta đề nghị chi tiền cho những nhân viên cứu hỏa. Nếu chúng ta mong chờ, nếu chúng ta quyết định không làm gì cả để mặc Liên Xô biến nơi đó thành căn cứ của họ và phát triển nó , và nó sẽ phát triển nếu chúng ta được chấp nhận điều đó xảy ra, thì chúng ta sẽ phải đối mặt với cùng một nguy cơ chiến tranh. Nó không phải là một mối đe dọa ngay lập tức, mà là tương lai”.

Chomsky thì coi Contras là một nhóm bạo động không tồn tại gốc rễ phía bên ngoài tổ quốc. Ông tin rằng họ phụ trách cho việc tra tấn và giết người Nicaragua bản địa và không được những vương quốc dân chủ hơn tại Mỹ Latinh ủng hộ. Dù ông thừa nhận rằng Sandinista là không phải nền dân chủ hoàn hảo, nhưng Chomsky cho rằng “Ngân hàng toàn cầu, OXFAM, Dòng Tên, và những tổ chức khác [nhận ra rằng Sandinista đã sử dụng] những nguồn lực ít ỏi của nước mình vì lợi ích của đa số người nghèo. Đó là lý do tại sao tiêu chuẩn y tế tăng vọt. Đó là lý do tại sao tỷ lệ biết chữ tăng thêm. Đó là lý do tại sao tổ quốc đó là nơi duy nhất trong khu vực cải cách ruộng đất được tiến hành. Đó là lý do tại sao nền nông nghiệp tự cung tự cấp được cải thiện và lượng tiêu thụ lương thực tăng và đó là lý do tại sao chúng ta đã tiến công họ. Chẳng có gì liên quan tới dân chủ cả. “Cuộc tranh biện là một ví dụ thú vị về logic Chiến Tranh Lạnh khi cả hai kẻ tham gia đều tuyên bố đại diện cho những giá trị dân chủ tự do trong lúc lại ủng hộ những chính sách độc tài, một cánh tả và một cánh hữu. Số lần tiến công cá nhân và tranh luận luẩn quẩn cũng kha khá, sự xung đột giữa hai phe trên truyền hình được chấp nhận chính quyền Reagan tránh mặt vụ bê bối Iran – Contra.

Chomsky vs. Silber

8


An Nguyễn

Biafra vs. Gore

Năm 1990, cựu ca sĩ chính Jello Biafra của nhóm Dead Kennedys xuất hiện cùng với nhà hoạt động xã hội Tipper Gore để tranh biện về mức đạo đức của lời bài hát của tôi và tổ chức của Gore, Trung tâm Âm nhạc giành riêng cho cha mẹ (PMRC). Ngoài ra thì còn có Rabbi Abraham Cooper, Juan Williams, Ice-T, và Nelson George tham gia. Nhưng Biafra và Gore mới là vai chính trong xung đột này. Trong những năm 1980, PMRC đã vận động chống lại những gì họ coi là có tác động tiêu cực tới xã hội như rock, rap, và những loại hình âm nhạc phổ biến khác của thanh thiếu niên tổ quốc. Biafra đã chịu tác động trực tiếp bởi những hoạt động của PMRC khi anh bị buộc tội phân phát tài liệu khiêu dâm vì đã đính kèm một bản in có tên là Cảnh Quan Con Chim (Penis Lanscape) được vẽ bởi họa sỹ siêu thực Thụy Sĩ H.R. Giger vốn rất được hoan nghênh trong album của Dead Kenedys, Frankenchrist.

Biafra cáo buộc Gore đứng đằng sau những cáo buộc chống lại anh và ban nhạc của tôi, trích dẫn từ một cuộc phỏng vấn thì Gore đã nói, “Tôi muốn nhận đó là thành quả của tôi.” Gore, tuy nhiên, lại phủ nhận điều này và cho rằng họ đã trích sai lời cô. Trong cuộc tranh biện, Biafra ủng hộ tự do ngôn luận và cho rằng những lực lượng phía sau PMRC là một nhóm những người ủng hộ những hoạt động tôn giáo bảo thủ. Gore phủ nhận những cáo buộc này, tuyên bố mình là một thành viên đảng Dân chủ tự do luôn tin rằng âm nhạc với nội dung khiêu gợi đang có tác động không tốt lên trẻ em Mỹ. Cô cũng tuyên bố rằng tổ chức của tôi có làm việc với cả cảnh sát và những bác sĩ nhi khoa rất tác dụng và đồng thời đang hoạt động để thúc đẩy việc phân loại những loại băng đĩa theo nhãn rõ ràng để những bậc cha mẹ hoàn toàn có thể được biết về thể loại âm nhạc của con cái họ. những cuộc tranh biện này đạt một kỷ lục thú vị trong lịch sử những trận đánh tranh văn hóa vào những năm đầu 1990, dù cả Gore và Biafra đều sớm biến mất khỏi tầm nhìn công chúng. những loại nhãn phân loại sau đó đã được coi là những hình tượng trong lời nhạc hip-hop, mặc dù sau cùng sự tăng thêm của tính năng tải trực tuyến đã biến toàn bộ chúng thành vô nghĩa.

Biafra vs. Gore

9


An Nguyễn

Duke vs. Edwards

Thủ lĩnh nhóm Ku Klux Klan và kẻ tự nhận là cuồng tín David Duke là một sự mối nhục cho Đảng Cộng hòa khi là đại biểu trong Viện Bang Louisiana. Với gần 500.000 phiếu trpng đợt bầu cử thống đốc bang Louisiana năm 1991, ông ta tự gọi mình là “ứng cử viên đảng Cộng hòa” mặc dù những lãnh đạo đảng chẳng muốn dính tới ông ta làm gì. Tổng thống George H.W. Bush gọi ông là gã một lang băm và một tên phát xít không tồn tại quyền nắm giữ bất kỳ vị trí nào trên sân khấu vương quốc. Tuy nhiên, Duke có người ủng hộ và được phép tranh biện với Edwin W. Edwards, người đã phục vụ ba nhiệm kỳ thống đốc Louisiana từ năm 1971 đến năm 1987. Mặc dù là một thành viên đảng Dân chủ, Edwards nhận được nhiều sự ủng hộ từ đảng Cộng hòa và xã hội doanh nghiệp hơn Duke rất nhiều.

Khi Duke và Edwards gặp mặt để tranh biện trong một phòng khách sạn ở Baton Rouge, họ đã được người điều hành tư vấn là nên tránh nói tới nhân thân của nhau. Duke đay nghiến Edwards về những cáo buộc tham nhũng và chủ nghĩa gia đình trị, ngụ ý rằng Edwards đã ra giá những công việc nhà nước và thậm chí ân xá sếp cũ của tôi. Edwards nói việc bầu cho Duke sẽ là một quyết định tai hại cho nền kinh tế và xua đuổi những tổ chức Sale, khiến Louisiana mất 45.000 việc làm và 1,8 tỷ đô la để khôi phục kinh tế. những cuộc tranh biện giúp Edwards hấp dẫn sự ủng hộ của những người ưa thích Thống đốc đảng Cộng hòa Buddy Roemer, người đã bị đẩy ra ngoài sau khi giành vị trí thứ ba ở trong cuộc bầu cử sơ bộ. Ewards đã đè bẹp Duke trong cuộc bầu cử, giành 61 phần trăm số phiếu. Còn về kết cục, Duke tuyên bố ông ta đã giành được một “thắng lợi đạo đức” vì ông đã nhận được được đa số phiếu trắng. Một số người đã lý luận rằng cái gọi là thành công của Duke là nhờ hệ thống bầu đa số tương đối. Roemer có lẽ đã đạnh bại cả Edwards và Duke nếu anh ta tham gia cuộc chơi.

Duke vs. Edwards (Ảnh minh họa)
Duke vs. Edwards (Ảnh minh họa)

10


An Nguyễn

Gore vs. Perot

vào trong ngày 09 tháng 11 năm 1993, Phó Tổng thống Al Gore và nhà tỷ phú Ross Perot hơi điên điên đã gặp mặt tại đài Larry King Live để tranh biện về giá trị của những đề xuất trong Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA), thứ sẽ loại bỏ những rào cản thương mại giữa Hoa Kỳ, Canada, và Mexico. Đó là một cuộc tranh biện quan trọng về một vấn đề gây tranh cãi, với 16 triệu người dành thời gian theo dõi. không tồn tại khán giả tại trường quay, và cũng không ai được phép nhận bất kỳ sự hỗ trợ nào trong những cuộc tranh biện. Gore đã đánh bại Perot với thái độ hợp lý, có chừng mực của tôi trong lúc Perot tỏ ra thiếu kiên nhẫn, thiếu tôn trọng, và nóng nảy. Tạp chí Time đã mô tả cuộc xung đột như thế này: “một Gore bình tĩnh, khéo léo đã vượt qua đầu một Perot ác ý và gầm gừ theo nghĩa đen”. Khi Perot tuyên bố rằng tự do thương mại sẽ làm suy yếu nền kinh tế và gây ra nạn thất nghiệp, Gore đã bác bỏ coi nó là tiêu chuẩn tiêu cực do Perot đưa ra, nhắc lại dự đoán trước đó của Perot về sự việc 40,000 người Mỹ sẽ chết chong chiến tranh vùng vịnh và 100 ngân hàng sẽ đóng cửa nếu đảng Dân chủ thắng cử.

James Fallows bang Atlantic đã mô cả cách hành xử thông minh vượt mặt Perot của Gore: “Đó là hành động thiên tài, hoặc ít nhất là mưu lược, khi quyết định để Gore đẩy những sai lầm của Perot tới đỉnh điểm – để khả năng của Gore tỏa sáng trong cuộc tranh biện khiến Perot mất bình tĩnh… Ngay từ lúc bắt đầu, Perot đã trông như một ông già cáu kỉnh. Perot, tốt nghiệp từ học viện chuyên nghành Hải Quân, luôn rất tự hào về hình ảnh là một tình nhân nước sẵn sàng hi sinh của tôi. Nhiều trợ lý đã Tóm lại rằng nếu Gore hoàn toàn có thể ra cách để chế giễu hay nghi ngờ niềm tin ấy, Perot sẽ không thể kiểm soát bản thân. Perot gần như vẫn chưa từng chịu sự khinh thường khi nào. Sau cuộc tranh biện, sự ủng hộ NAFTA tăng từ 34 lên 57 phần trăm. Sự ủng hộ cho Perot và tham vọng chính trị của ông ta cũng tiêu tan, vì ông ta không thể dẫn chứng lời tuyên bố của tôi với những thông tin xác đáng.

Gore vs. Perot

Từ khóa: Top 10 Cuộc tranh biện nổi tiếng nhất trong lịch sử truyền hình Mỹ, Top 10 Cuộc tranh biện nổi tiếng nhất trong lịch sử truyền hình Mỹ, Top 10 Cuộc tranh biện nổi tiếng nhất trong lịch sử truyền hình Mỹ

Có thể bạn quan tâm:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *