Top 10 Bài văn phân tích tác phẩm “tổ quốc” của Nguyễn Khoa Điềm hay nhất

13-07-2020 10 53890 0 0

Báo lỗi

Nguyễn Khoa Điềm thuộc thế hệ những nhà thơ giai đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu nước. phong thái thơ ông là sự phối kết hợp giữa cảm xúc nồng nàn và suy tư sâu lắng của người trí thức về tổ quốc, con người Việt Nam. Tác phẩm “tổ quốc” thuộc phần đầu chương 5 của trường ca “Mặt đường khát vọng” sáng tác năm 1971 tại khu Trị – Thiên. “tổ quốc” thể hiện những cảm nhận mới mẻ của tác giả về tổ quốc qua những vẻ đẹp được phát hiện ở chiều sâu trên nhiều phương diện: Lịch sử, địa lý, văn hóa,… Tư tưởng trọng tâm bao trùm toàn bộ bài thơ là tư tưởng “tổ quốc của nhân dân”. Mời những bạn tìm hiểu thêm một số bài văn phân tích tác phẩm mà Toplist đã tổng hợp trong bài viết sau để cảm nhận rõ hơn nội dung trên.

12345678910

1


Bình An

Bài văn phân tích tác phẩm “tổ quốc” của Nguyễn Khoa Điềm số 1

tổ quốc luôn là tiếng gọi thiêng liêng muôn thuở, muôn nơi và của bao triệu trái tim con người. tổ quốc đi vào đời chúng ta qua những lời ru ngọt ngào êm dịu, qua những làn điệu dân ca mượt mà và những vần thơ sâu lắng, thiết tha và rất đỗi tự hào của bao lớp thi nhân.

Ta bắt gặp một hình tượng tổ quốc đau thương nhưng vẫn ngời lên ý chí đấu tranh trong trang thơ Nguyễn Đình Thi đồng thời cũng rất dịu dàng ý tứ trong thơ Hoàng Cầm. Nhưng với Nguyễn Khoa Điềm, ta bắt gặp một chiếc nhìn toàn vẹn, tổng hợp từ nhiều bình diện không giống nhau về một tổ quốc của nhân dân. Tư tưởng ấy đã qui tụ mọi cách nhìn và cảm nhận của Nguyễn Khoa Điềm về tổ quốc.

trải qua những vần thơ phối kết hợp giữa cảm xúc và suy nghĩ, trữ tình và chính luận, nhà thơ muốn thức tỉnh ý thức, tinh thần dân tộc, tình cảm với nhân dân, tổ quốc của thế hệ trẻ Việt Nam trong những năm chống Mĩ cứu nước. Mở đầu đoạn trích là giọng thơ nhẹ nhàng, thủ thỉ như những lời tâm tình phối kết hợp với hình ảnh thơ bình dị gần gũi đưa ta trở về với cội nguồn tổ quốc.

Khi ta lớn lên tổ quốc đã có rồi

tổ quốc có trong những cái ngày xửa

Ngày xưa mẹ thường hay kể

tổ quốc bắt đầu từ miếng trầu hiện nay bà ăn

tổ quốc lớn lên khi dân mình biết

trồng tre mà đánh giặc.

tổ quốc trước hết không phải là một khái niệm trừu tượng mà là những gì rất gần gũi, thân thiết ở ngay trong cuộc sống bình dị của mỗi con người. tổ quốc hiện hình trong mẩu truyện cổ tích ngày xửa ngày xưa mẹ kể, trong miếng trầu của bà, cây tre trước ngõ… gợi lên một tổ quốc Việt Nam bao dung hiền hậu, thủy chung và sắt son tình nghĩa anh em, nhưng cũng cực kì quyết liệt khi chống quân xâm lược.

Mỗi quả cau, miếng trầu, cây tre đều gợi về một vẻ đẹp tinh thần tổ quốc, đều thấm đẫm ngọn nguồn lịch sử dân tộc. tổ quốc còn là hiện thân của những phong tục tập quán ngàn đời, minh chứng của một dân tộc giầu truyền thống văn hóa, giầu tình yêu thương gắn bó với mái ấm gia đình.

Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn. Gừng tất nhiên là cay, muối tất nhiên là mặn. Tình yêu cha mẹ mãi mãi mặn nồng như chính chân lí tự nhiên kia. Hình ảnh thơ khiến ta rưng rưng nhớ về một lời nhắc nhở thiết tha về tình nghĩa của một ai đó hôm nào: Tay bưng dĩa muối chén gừng, Gừng cay muối mặn xin nhớ là nhau. tổ quốc còn là thành quả của công cuộc lao động vất vả để tồn tại, để dựng xây nhà cửa:

Cái kèo cái cột thành tên

Hạt gạo phải một nắng hai sương xay,

giã, giần, sàng

tổ quốc có từ ngày đó .

Ở đây tổ quốc không thể là một khái niệm trừu tượng nữa mà cụ thể, quen thuộc và giản gị biết bao . Việc tác giả sử dụng những vật liệu dân gian để thể hiện suy tưởng của tôi về tổ quốc với quan niệm “tổ quốc của nhân dân”. Vẫn bằng lời trò chuyện tâm tình với mỗi nhân vật đối thoại tưởng tượng, Nguyễn Khoa Điềm đã diễn giải khái niệm tổ quốc theo kiểu riêng của tôi:

Đất là nơi anh đến trường

Nước là nơi em tắm

tổ quốc là nơi ta hò hẹn

tổ quốc là nơi em đánh rơi chiếc

khăn trong nỗi nhớ thầm.

tổ quốc không những được cảm nhận bởi không gian địa lí mênh mông từ rừng đến bể mà còn được cảm nhận bởi không gian sinh hoạt bình thường của mỗi người, không gian của tình yêu đôi lứa, không gian của nỗi nhớ thương. Ý niệm về tổ quốc được gợi ra từ những việc chia tách hai yếu tố hợp thành là đất và nước với những liên tưởng gợi ra từ đó. Sử dụng lỗi chiết tự mà vẫn không ngô nghê, mà vẫn thật duyên dáng và ý nhị, rất có thể gợi ra cho thấy một quan niệm mang những tính chất riêng của dân tộc ta về khái niệm tổ quốc, mà tư duy thơ rất có thể tách ra, nhấn mạnh .

Đất mở ra cho anh một chân trời kiến thức và kỹ năng, nước gột rửa tâm hồn em trong sáng dịu hiền. Cùng với thời gian lớn lên tổ quốc trở thành nơi anh và em hò hẹn. Không những thế, tổ quốc còn người bạn sẻ chia những tình cảm nhớ mong của những người đang yêu.

Đất và nước tách rời khi anh và em đang là hai cá thể, còn hòa hợp khi anh và em kết lại thành ta. Chiếc khăn – hình tượng của nỗi nhớ thương – đã từng làm bao trái tim tuổi trẻ bâng khuâng: “Khăn thương nhớ ai, Khăn rơi xuống đất …”, một lần nữa lại khiến lòng người xúc động, bồi hồi trước tình cảm chân thành của những tâm hồn yêu thương say đắm.

tổ quốc còn là nơi trở về của những tâm hồn thiết tha với quê nhà. Hình ảnh con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc, con cá ngư ông móng nước biển khơi mang phong thái dân ca miền Trung, thấm đẫm lòng yêu quê nhà cả tác giả. tổ quốc mình bình dị, quen thuộc nhưng đôi khi cũng lớn rộng, tráng lệ và kì vĩ cực kì, nhất là đối với những người đi xa . Dù chim ham trái chín ăn xa, thì cũng giật mình nhớ gốc cây đa lại về . Gia đình Việt Nam là như thế, lúc nào cũng hướng về quê nhà, hướng về cội nguồn .

tổ quốc trường tồn trong không gian và thời gian: Thời gian đằng đẵng, không gian mênh mông để mãi mãi là nơi dân mình sum họp, là không gian tồn tại của xã hội Việt Nam qua bao thế hệ. Nguyễn Khoa Điềm gợi lại truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ, về truyền thuyết Hùng Vương và ngày giỗ tổ.

Nhắc lại Lạc Long Quân và Âu Cơ, nhắc đến ngày giỗ tổ, Nguyễn Khoa Điềm muốn nhắc nhở mọi người nhớ về cội nguồn của dân tộc. Dù bôn ba chốn nào, người dân Việt Nam cũng đều hướng về đất tổ, nhớ đến dòng giống Rồng Tiên của tôi. Nhắc đến chuyện xưa ấy như để khẳng định, cũng là để nhắc nhở:

Những ai đó đã khuất

Những ai hiện nay

Yêu nhau và sinh con đẻ cái

Gánh vác phần người đi trước để lại

Dặn dò con cháu chuyện mai sau

Cảm hứng thơ của tác giả có vẻ phóng túng , tự do nhưng thật ra đây là một hệ thống lập luận khá rõ mà chủ yếu là tác giả thể hiện tổ quốc trong ba phương diện: trong chiều rộng của không gian lãnh thổ địa lí, trong chiều dài thăm thẳm của thời gian lịch sử, trong bề dày của văn hóa – phong tục, lối sống tâm hồn và tính cách dân tộc.

Ba phương diện ấy được thể hiện gắn bó thống nhất và ở bất kỳ phương diện nào thì tư tưởng tổ quốc của nhân dân vẫn là tư tưởng cốt lõi , nó như một hệ qui chiếu mọi cảm xúc và suy tưởng của nhà thơ. Và cụ thể hơn nữa , gần gũi hơn nữa , tổ quốc ở ngay trong máu thịt của mỗi chúng ta:

Trong anh và em hôm nay

Đều có một phần tổ quốc

tổ quốc đã thấm tự nhiên vào máu thịt, đã hóa thành máu xương của mỗi con người, vì thế sự sống của mọi cá nhân không phải là riêng của mỗi con người mà là của cả tổ quốc. Mỗi con người đều thừa hưởng ít nhiều di sản văn hóa vật chất và tinh thần của tổ quốc, phải giữ gìn và bảo vệ để làm nên tổ quốc muôn đời.

Từ những quan niệm như vậy về tổ quốc, phần sau của tác phẩm tác giả triệu tập làm nổi trội tư tưởng : tổ quốc của nhân dân, chính Nhân dân là người đã sáng tạo ra tổ quốc. Tư tưởng đó đã dẫn đến một chiếc nhìn mới mẻ, có chiều sâu về địa lí, về những danh lam thắng cảnh trên khắp mọi miền tổ quốc.

Những núi Vọng Phu, hòn Trống Mái, những núi Bút non Nghiên… không thể là những cảnh thú thiên nhiên nữa mà được cảm nhận trải qua những cảnh ngộ, số phận của nhân dân, được nhìn nhận như là những đóng góp của nhân dân , sự hóa thân của những con người vô danh: “Những người vợ nhớ anh xã còn góp cho tổ quốc những núi Vọng Phu, Cặp vợ anh xã yêu nhau góp nên hòn Trống Mái” , “Người học trò thắng cảnh”.

Ở đây cảnh vật thiên nhiên qua cách nhìn của Nguyễn Khoa Điềm, hiện lên như một phần tâm hồn, máu thịt của nhân dân . Chính nhân dân đã tạo dựng nên tổ quốc, đã đặt tên, đã ghi dấu vết cuộc đời mình lên mỗi ngọn núi, dòng sông. Từ những hình ảnh, những cảnh vật, những hiện tượng cụ thể, nhà thơ qui nạp thành một khái quát sâu sắc:

Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi

Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha

Ôi ! tổ quốc sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy

Những cuộc đời đã hóa núi sông ta.

Tư tưởng tổ quốc của nhân dân đã chi phối cách nhìn của nhà thơ khi nghĩ về lịch sử bốn nghìn năm của tổ quốc . Nhà thơ không ca tụng những triều đại, không nói về những anh hùng được sử sách lưu danh mà chỉ triệu tập nói về những con người vô danh, bình thường, bình dị. tổ quốc trước hết là của nhân dân, của những con người vô danh bình dị đó.

Họ đã sống và chết

Giản dị và bình tâm

Không ai nhớ mặt đặt tên

Nhưng họ đã làm ra tổ quốc

Họ lao động và chống giặc ngoại xâm, họ đã giữ và truyền lại cho những thế hệ mai sau những giá trị văn hóa, văn minh, tinh thần và vật chất của tổ quốc từ hạt lúa, ngọn lửa, tiếng nói, tên xã, tên làng đến những truyện thần thoại, câu tục ngữ, ca dao . Mạch cảm xúc lắng tụ lại để sau cùng dẫn tới cao trào, làm nổi trội lên tư tưởng cốt lõi của cả bài thơ vừa bất ngờ, vừa giản dị và độc đáo.

tổ quốc này là tổ quốc nhân dân

tổ quốc của Nhân dân, tổ quốc của ca dao thần thoại

Một định nghĩa giản dị, bất ngờ về tổ quốc. tổ quốc của ca dao thần thoại nhưng vẫn thể hiện những phương diện quan trọng nhất của truyền thống nhân dân, của dân tộc: Thật đắm say trong tình yêu, biết quí trọng tình nghĩa và cũng thật quyết liệt trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm.

Những câu thơ khép lại tác phẩm ca tụng vẻ đẹp của cảnh sắc quê nhà với cùng một tâm hồn lạc quan phơi phới . toàn bộ ào ạt tuôn chảy trong tâm trí người đọc những tí tách reo vui… tổ quốc của Nguyễn Khoa Điềm đã góp thêm thành công cho mảng thơ viết về tổ quốc . Từ những cảm nhận mang tính gần gũi, quen thuộc, tổ quốc không thể xa lạ, trừu tượng mà trở thành thân thiết nhưng vẫn rất thiêng liêng .

Đọc tổ quốc của Nguyễn Khoa Điềm ta không những tìm về cội nguồn dân tộc mà còn khơi dậy tinh thần dân tộc trong những con người Việt Nam trong mọi thời đại .

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)


2


Bình An

Bài văn phân tích tác phẩm “tổ quốc” của Nguyễn Khoa Điềm số 2

“… Trong anh và em hôm nay

Đều có một phần tổ quốc

Khi hai đứa cầm tay

tổ quốc trong chúng ta hài hòa nồng thắm

Khi chúng ta cầm tay mọi người

tổ quốc vẹn tròn, to lớn

Mai này con ta lớn lên

Con sẽ mang tổ quốc đi xa

Đến những tháng ngày mơ mộng

Em ơi em tổ quốc là máu xương của tôi

phải ghi nhận gắn bó và san sẻ

phải ghi nhận hóa thân cho dáng hình xứ sở

Làm nên tổ quốc muôn đời…”

“Mặt đường khát vọng” là trường ca độc đáo của Nguyễn Khoa Điềm, phát hành trong chiến tranh ác liệt thời chống Mĩ, tại chiến trường Trị – Thiên – một điểm nóng – trên chiến trường miền Nam vào năm 1971. Bài thơ đã truyền đến người đọc bao xúc động, tự hào về tổ quốc và nhân dân.

Trong bài “Có một thời đại mới trong thi ca”, Trần Mạnh Hảo viết: “Vào đêm giao thừa Tết âm lịch 1973 – 1974, dưới rừng Phước Long, chúng tôi xúc động nghe trích đoạn “tổ quốc” trích trong trường ca “Mặt đường khát vọng” của Nguyễn Khoa Điềm phát trên Đài phát thanh. Những suy nghĩ về tổ quốc, về dân tộc đã được nhà thơ hiện đại hoá bằng chất suy tư lắng đọng và cảm xúc mãnh liệt”.

“tổ quốc” – là chương V trong trường ca “Mặt đường khát vọng” dài 110 câu thơ (trong “Văn 12” chỉ trích 89 câu). Phần đầu (42 câu) là cảm nhận của nhà thơ trẻ về tổ quốc trong cội nguồn sâu xa văn hóa – lịch sử, và trong sự gắn bó thân thiết với đời sống hằng ngày của mỗi con người Việt Nam. Phần thứ hai, cảm hứng chủ đạo về tổ quốc là sự ngợi ca, khẳng định tư tưởng tổ quốc của Nhân Dân.

Từ đó, nhà thơ nhận diện phát hiện tổ quốc trên bình diện về địa lý, lịch sử, văn hoá, ngôn ngữ, truyền thống tinh thần dân tộc – nền văn hiến Việt Nam. Vẻ đẹp độc đáo của chương V “tổ quốc” là tác giả vận dụng sáng tạo nhiều yếu tố văn hoá dân gian, tục ngữ, ca dao, dân ca, truyện cổ, phong tục…, cùng với cách diễn đạt bình dị, hiện đại gây ấn tượng vừa gần gũi vừa mới mẻ cho người đọc.

Mười ba câu thơ dưới đây trích trong phần đầu chương “tổ quốc” thể hiện cảm nhận: tổ quốc gắn bó thân thiết với mỗi con người Việt Nam:

Trong anh và em hôm nay

Đều có một phần tổ quốc

(…)

Làm nên tổ quốc muôn đời…”.

Trong chương V trường ca “Mặt đường khát vọng”, hai từ tổ quốc và Nhân Dân đều được viết hoa, trở thành “mĩ tự” gợi lên không khí cao quý, thiêng liêng và biểu lộ cao độ cảm xúc yêu mến, tự hào về tổ quốc và Nhân Dân. Chủ thể trữ tình là “anh và em”, giọng điệu tâm tình thổ lộ, sâu lắng, thiết tha, ngọt ngào. Cấu trúc đoạn thơ 13 câu thơ là cấu trúc tổng – phân – hợp mà ta cảm nhận được tính chất chính luận của ngòi bút thơ Nguyễn Khoa Điềm.

Hai câu thơ mở đoạn là sự thức nhận chân lý về cội nguồn, về truyền thống, về lịch sử,… tổ quốc gần gũi và gắn bó thân thiết với “anh và em”, với mọi người:

“Trong anh và em hôm nay

Đều có một phần tổ quốc”.

Chỉ “một phần” nhỏ xíu thôi, nhưng xiết bao gần gũi, gắn bó, yêu thương và tự hào. Từ khái niệm, ý niệm “mỗi công dân là một phần tử của xã hội, của tổ quốc” được diễn đạt một cách “mềm hóa” qua tiếng nói tâm tình của lứa đôi, của “anh và em”.

Bảy câu thơ tiếp theo mở rộng ý thơ trên từ “hai đứa” đến “mọi người”, từ “hôm nay” đến “ngày mai” và muôn đời mai sau.

“Khi hai đứa cầm tay

tổ quốc trong chúng ta hài hòa nồng thắm”.

Ở phần trước, nhà thơ cảm nhận: “tổ quốc là nơi anh đến trường – Nước là nơi em tắm – tổ quốc là nơi ta hò hẹn – tổ quốc là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm”. Và “khi hai đứa cầm tay” thì một mái ấm, tổ ấm gia đình đã được xây dựng. Gia đình là “một phần” của tổ quốc.

Chỉ có tình yêu và hạnh phúc gia đình mới tạo sự “hài hòa, nồng thắm” với tình yêu quê nhà tổ quốc. Đó là thực chất thống nhất trong tình cảm của thời đại mới. ý tưởng phát minh ấy đã được Nguyễn Đình thi hài hiện trong một tứ thơ sâu và đằm về nỗi “nhớ”:

“Anh yêu em như anh yêu tổ quốc

Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần…”.

Từ tình yêu và hạnh phúc lứa đôi mà biết yêu gia đình, yêu quê nhà, yêu tổ quốc, mới rất có thể có tình nghĩa sâu nặng “tổ quốc trong chúng ta hài hòa nồng thắm”, mới tìm thấy tổ quốc quê nhà cả trong thú vui và nỗi đau của anh, của em, của bao lứa đôi khác:

“Xưa yêu quê nhà vì có chim có bướm

Có những lần trốn học bị đòn roi.

Nay yêu quê nhà vì trong từng nắm đất

Có một phần xương thịt của em tôi”.

(Giang Nam)

Nói về cội nguồn của giòng giống, của dân tộc, Nguyễn Khoa Điềm nhắc lại sự tích “Trăm trứng”: “Đất là nơi Chim về – Nước là nơi Rồng ở – Lạc Long Quân và Âu Cơ – Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng – Những ai đó đã khuất – Những ai hiện nay…”. Từ huyền thoại thiêng liêng ấy mới có ý thơ này:

“Khi chúng ta cầm tay mọi người

tổ quốc vẹn tròn, to lớn”

Hai chữ “cầm tay” trong câu thơ “Khi hai đứa cầm tay” có tức là giao duyên, là yêu thương. “Khi hai chúng ta cầm tay mọi người” là đoàn kết, là yêu thương đồng bào,… Mọi người có cầm tay nhau, yêu thương giúp đỡ lẫn nhau mới có hình ảnh “tổ quốc vẹn tròn, to lớn”, mới có đại đoàn kết dân tộc và sức mạnh Việt Nam. Từ “hài hòa, nồng thắm” đến “vẹn tròn, to lớn” là cả một bước phát triển và đi lên của lịch sử dân tộc và tổ quốc.

tổ quốc được cảm nhận là sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc. Chỉ khi nào “ba cây chụm lại nên hòn núi cao”, và chỉ khi nào “lá lành đùm lá rách rưới”, “Người trong một nước phải thương nhau cùng” thì mới có hình ảnh đẹp đẽ, thiêng liêng “tổ quốc vẹn tròn, to lớn”.

Bốn câu thơ trên đây kết cấu theo phép đối xứng về ngôn từ: “Khi hai đứa cầm tay”… “Khi chúng ta cầm tay mọi người”, “tổ quốc hài hoà nồng thắm…”. “tổ quốc vẹn tròn, to lớn”. Cách diễn đạt uyển chuyển, sinh động ấy có ý nghĩa sâu sắc thẩm mĩ sâu sắc: hình thức này thể hiện nội dung ấy, nội dung ấy được diễn đạt bằng hình thức này.

Phép đối xứng làm cho thơ liền mạch, hài hòa, gắn bó, thể hiện rõ ý thơ: tình yêu lứa đôi, tổ ấm hạnh phúc, gia đình, tình yêu quê nhà tổ quốc, tinh thần đại đoàn kết dân tộc là những tình cảm đẹp, làm nên truyền thống “yêu nước, yêu nhà, yêu người” và đó là sức mạnh Việt Nam. tổ quốc “Nguồn thiêng ông cha”, tổ quốc “Trong anh và em hôm nay”, tổ quốc trong mai sau. Như một nhắn nhủ, như một kỳ vọng sáng ngời niềm tin:

“Mai này con ta lớn lên

Con sẽ mang tổ quốc đi xa

Đến những tháng ngày mơ mộng”.

Nguyễn Thi, Anh Đức, Lê Anh Xuân, Sơn Nam… đã tạo thành giọng điệu Nam Bộ hấp dẫn trong thơ ca và truyện của tôi. Tố Hữu, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Hải,… cũng có thể có một giọng điệu riêng “rất Huế”, dễ thương dịu ngọt. Hai tiếng “mai này” là cách nói của bà con xứ Huế.

Thế hệ con cháu mai sau sẽ tiếp bước cha ông “Gánh vác phần người đi trước để lại” xây dựng tổ quốc ta “Vạn cổ thử giang sơn” (Trần Quang Khải), “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” (Hồ Chí Minh). Hai chữ “lớn lên” biểu lộ một niềm tin về trí tuệ và bản lĩnh nhân dân trên hành trình lịch sử đi tới ngày mai tươi sáng. “Mơ mộng” tức là rất đẹp, ngoài trí tưởng tượng về một Việt Nam cường thịnh, một cường quốc văn minh.

Điều mà “anh và em”, mỗi người chúng ta mơ mộng hôm nay, sẽ trở thành hiện thực “mai này” gần. Bốn câu thơ cuối đoạn cảm xúc dâng lên thành cao trào. Giọng thơ trở thành ngọt ngào, say đắm khi nhà thơ nói lên những suy nghĩ sâu sắc, đẹp đẽ của tôi:

“Em ơi em tổ quốc là máu xương của tôi

phải ghi nhận gắn bó và san sẻ

phải ghi nhận hoá thân cho dáng hình xứ sở

Làm nên tổ quốc muôn đời…”

“Em ơi em” – một tiếng gọi yêu thương, giãi bày và san sẻ bao thú vui sướng đang dâng lên trong lòng khi nhà thơ cảm nhận và định nghĩa về tổ quốc: “tổ quốc là máu xương của tôi”. tổ quốc là huyết hệ, là thân thể ruột thịt thân yêu của tôi, và mồ hôi xương máu của tổ tiên, ông cha của dân tộc ngàn đời. Vì “tổ quốc là máu xương của tôi” nên Trần Vàng Sao đã viết:

“Nuôi lớn người từ ngày mở đất,

Bốn ngàn năm nằm gai nếm mật

Một tấc lòng cũng đẫy hồn Thánh Gióng”.

(“Bài thơ của một tình nhân nước mình” 19/12/1967)

Với Nguyễn Khoa Điềm thì “gắn bó”, “san sẻ”, “hóa thân” là những biểu lộ của tình yêu nước, là ý thức, là nghĩa vụ cao quý và thiêng liêng. “phải ghi nhận gắn bó và san sẻ… phải ghi nhận hóa thân…” thì mới rất có thể “Làm nên tổ quốc muôn đời”. Điệp ngữ “phải ghi nhận” như một mệnh lệnh phát ra từ con tim, làm cho giọng thơ mạnh mẽ, chấn động.

Có biết trường ca “Mặt đường khát vọng” phát hành tại một nơi nóng bỏng, ác liệt nhất của thời chiến tranh chống Mỹ thì mới cảm nhận được những từ ngữ: “gắn bó”, “san sẻ”, “hóa thân” là tiếng nói tâm huyết “mang sức mạnh ý chí và khát vọng vượt ra ngoài giới hạn thông tin của ngôn từ” như một nhà ngôn ngữ học lừng danh đã nói.

Trong thơ ca Việt Nam thời kháng chiến, đề tài quê nhà tổ quốc được tô đậm bằng nhiều bài thơ kiệt tác, những đoạn thơ hay, những câu thơ tuyệt cú. Cảm hứng về tổ quốc được diễn tả bằng nhiều tứ thơ độc đáo, mang phong thái sáng tạo riêng của mỗi nhà thơ. Chất trữ tình thấm đẫm dư ba. tổ quốc trong máu lửa mới mang cảm xúc sâu nặng thế. Đây là tiếng nói ở hai đầu tổ quốc:

“Tôi yêu tổ quốc này chân thực

Như yêu căn nhà nhỏ có mẹ của tôi

Như yêu em nụ hôn ngọt trên môi

Và yêu tôi đã biết làm người

Cứ trông tổ quốc mình thống nhất”

(Trần Vàng Sao)

“Ôi! Tổ quốc ta, ta yêu như máu thịt

Như mẹ cha ta như vợ như anh xã

Ôi Tổ quốc, nếu cần ta chết

cho từng ngôi nhà, ngọn núi, con sông”.

(Chế Lan Viên)

quay về đoạn thơ trên đây của Nguyễn Khoa Điềm. Tứ thơ rất đẹp. tổ quốc thân thương gắn bó với mọi người. phải ghi nhận hiến dâng cho “tổ quốc muôn đời”. Đoạn thơ đẹp còn vì sáng ngời niềm tin về tương lai tổ quốc và tiền đồ tươi sáng của dân tộc. Đoạn thơ mang tính chính luận, chất trữ tình hàm ẩn tính công dân của thời đại mới. Giọng thơ tâm tình, dịu ngọt, tứ thơ dạt dào cảm xúc, sáng tạo về ngôn từ, hình ảnh, thể hiện một hồn thơ giàu chất suy tư, khẳng định một thi pháp độc đáo, có nhiều mới mẻ tìm tòi.

“Em ơi em, tổ quốc là máu xương của tôi…” – một tứ thơ rất đẹp! Một tứ thơ lung linh mang vẻ đẹp trí tuệ! Lúc hòa bình phải ghi nhận đem “trí lực” để xây dựng tổ quốc, “làm nên tổ quốc muôn đời”, tổ quốc “to đẹp hơn đàng hoàng hơn”. Lúc có chiến tranh phải đem xương máu để bảo toàn Sông núi. “Gắn bó, san sẻ, hóa thân” cho tổ quốc, ấy là nghĩa vụ cao quý thiêng liêng, ấy là tình yêu tổ quốc của “anh và em” hôm nay, của thế hệ Việt Nam “Mai này con ta lớn lên”…

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

3


Bình An

Bài văn phân tích tác phẩm “tổ quốc” của Nguyễn Khoa Điềm số 3

tổ quốc là nguồn cảm hứng bất tận của thơ ca và nghệ thuật. Mỗi nhà thơ đều có những cảm nhận rất riêng về tổ quốc, bởi thế tổ quốc, Tổ quốc hiện lên muôn màu muôn vẻ. Nếu như những nhà thơ cùng thời thường chọn điểm nhìn về tổ quốc bằng những hình ảnh kỳ vĩ, mỹ lệ hay cảm hứng về lịch sử qua những triều đại thì Nguyễn Khoa Điềm lại chọn điểm nhìn gần gũi, quen thuộc bình dị để mô tả về tổ quốc. Đến với bài thơ tổ quốc của Nguyễn Khoa Điềm ta như đứng trước muôn màu văn hóa, truyền thống, phong tục tươi đẹp vô ngần. Vẻ đẹp ấy được hiện lên sâu sắc nhất qua chín câu thơ đầu.

Khi ta lớn lên tổ quốc đã có rồi

tổ quốc có trong những cái “ngày xửa ngày xưa” mẹ thường hay kể.

tổ quốc bắt đầu với miếng trầu hiện nay bà ăn

tổ quốc lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc

Tóc mẹ thì bới sau đầu

Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn

Cái kèo, cái cột thành tên

Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng

tổ quốc có từ ngày đó…

tổ quốc là nguồn cảm hứng bất tận của thơ ca. Ở bài thơ này, Nguyễn Khoa Điềm đã chọn điểm nhìn gần gũi để mô tả một tổ quốc tự nhiên, bình dị mà không kém phần thiêng liêng, tươi đẹp. Hình ảnh tổ quốc trong đoạn thơ đầu hiện lên muôn màu muôn vẻ, sinh động lạ thường, lắng đọng trong tâm tưởng ta qua những nét đẹp về phong tục, tập quán, văn hóa, truyền thống mang đậm dấu ấn con người Việt.

Câu thơ mở đầu được viết theo thể câu khẳng định “Khi ta lớn lên tổ quốc đã có rồi”. Với cách vào đầu rất tự nhiên ấy, nhà thơ khẳng định: tổ quốc đã có từ rất lâu, có trước khi ta sinh ra vì thế khi ta lớn lên thì ta đã thấy tổ quốc. Bốn chữ cuối của câu thơ vang lên đầy tự hào “tổ quốc đã có rồi”. Đó là lời khẳng định chắc nịch về sự trường tồn của tổ quốc qua mấy ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước.Hai câu thơ tiếp theo nhà thơ diễn tả cụ thể về sự phát hành của tổ quốc.

tổ quốc có trong những cái “ngày xửa ngày xưa” mẹ thường hay kể.

tổ quốc bắt đầu với miếng trầu hiện nay bà ăn

Câu thơ thứ nhất, tác giả cho rằng tổ quốc có trong cái “ngày xửa ngày xưa”. tức là tổ quốc có từ rất nhiều năm, có tự ngày xưa. tổ quốc có từ trước khi những câu truyện cổ phát hành rồi khi những câu truyện cổ có mặt trong đời sống tinh thần của ta, ta lại thấy tổ quốc hiện diện trong truyện cổ.

Đó là tổ quốc của một nền văn học dân gian đặc sắc với những mẩu truyện cổ tích, thần thoại, truyền thuyết. Chính những mẩu truyện cổ và những bài hát ru thuở ta còn nằm nôi là nguồn sữa ngọt lành chăm nom cho ta cái chân thiện mĩ và lớn lên ta biết yêu tổ quốc con người. Về ý nghĩa sâu sắc của truyện cổ với đời sống tinh thần con người, nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ đã xúc động mà viết nên:

Tôi yêu truyện cổ nước tôi

Vừa nhân hậu lại tuyệt vời sâu xa

Thương người rồi mới thương ta

Yêu nhau dù mấy cách xa cũng gần

(Truyện cổ nước mình)

Câu thơ thứ hai, nhà thơ diễn tả tổ quốc có trong “miếng trầu hiện nay bà ăn”. lưu ý phong tục ăn trầu của người Việt. Câu thơ gợi nhớ về câu truyện cổ tích “Sự tích trầu cau” được xem là xưa nhất trong những câu truyện cổ. Tục ăn trầu cũng từ câu truyện này mà nên.

Như vậy là thẩm thấu vào trong miếng trầu dung dị ấy là 4000 năm phong tục, 4000 năm dân ta gìn giữ phong tục ăn trầu. Miếng trầu là hình tượng của tình yêu, vật chứng cho lứa đôi cũng là hình tượng tâm linh của người Việt. Từ phong tục ăn trầu, tục nhuộm răng đen cũng phát hành:

Những cô hàng xén răng đen

Cười như mùa thu tỏa nắng

(Hoàng Cầm)

Câu thơ thứ tư, nhà thơ diễn tả sự trưởng thành của tổ quốc. Đó là sự trưởng thành từ truyền thống đánh giặc giữ nước qua hình tượng Thánh Gióng và cây tre: “tổ quốc lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc”. Câu thơ lưu ý cho ta nhớ đến truyền thuyết Thánh Gióng, chàng trai Phù Đổng Thiên Vương nhổ tre làng Ngà đánh giặc, gợi lên vẻ đẹp mạnh khỏe của tuổi trẻ Việt Nam kiên định, bất khuất:

Ta như thuở xưa thần Phù Đổng

Vụt lớn lên đánh đuổi giặc Ân

Sức nhân dân khoẻ như ngựa sắt

Chí căm thù ta rèn thép thành roi

Lửa chiến đấu ta phun vào mặt

Lũ sát nhân cướp nước hại nòi

(Tố Hữu)

Truyền thống vẻ vang ấy đã theo suốt chặng đường dài của lịch sử dân tộc mãi đến hôm nay trong thời đại chống Mỹ bao tấm gương tuổi trẻ đã anh dũng chiến đấu bảo vệ giống nòi. Phải chăng, đó đó là vẻ đẹp của những chị, những anh đã tạc vào lịch sử Việt Nam dáng đứng kiêu hùng bất khuất: Võ Thị Sáu, Trần Văn Ơn, Nguyễn Văn Trỗi… Vẻ đẹp ấy song hành với hình ảnh cây tre Việt Nam. Cây tre hiền hậu trên mỗi làng quê.

Nó như là sự đồng hiện những phẩm chất trong cốt cách con người Việt Nam: thật thà chất phác, đôn hậu thuỷ chung, yêu chuộng hoà bình nhưng cũng kiên định bất khuất trong tranh đấu. Tre đứng thẳng hiên ngang bất khuất cùng chia lửa với dân tộc “Một cây chông cũng tiến công giặc Mỹ “, bởi:

“Nòi tre đâu chịu mọc cong

vẫn chưa lên đã nhọn như chông lạ thường”.

Bốn câu thơ tiếp theo nhà thơ mang đến cho người đọc vẻ đẹp thuần phong mỹ tục của con người Việt:

Tóc mẹ thì bới sau đầu

Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn

Cái kèo, cái cột thành tên

Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng

Đó là vẻ đẹp giản dị của người phụ nữ Việt Nam. Không ai khác là những người mẹ với phong tục “búi tóc sau đầu” (tóc cuộn thành búi sau gáy tạo cho người phụ nữ một vẻ đẹp nữ tính, thuần hậu rất riêng). Nét đẹp ấy gợi nhớ ca dao:

Tóc ngang lưng vừa chừng em bới

Để chi dài cho rối lòng anh

Nguyễn Khoa Điềm tiếp tục gắn dòng suy tưởng đến con người ngàn đời cư trú, lao động, chiến đấu trên mảnh đất Việt để giữ gìn tôn tạo mảnh đất thân yêu. Ở đó đạo lí ân nghĩa thủy chung trở thành truyền thống ngàn đời của dân tộc: “Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn”. Ý thơ được toát lên từ những câu ca dao đẹp:

“Tay bưng đĩa muối chén gừng

Gừng cay muối mặn xin nhớ là nhau”

Thành ngữ “gừng cay muối mặn” được vận dụng một cách đặc sắc trong câu thơ nhẹ nhàng mà thấm đượm biết bao ân tình. Nó gợi lên được ân nghĩa thủy chung ở đời: gừng càng già càng cay, muối càng lâu năm càng mặn, con người sống với nhau lâu năm thì tình nghĩa càng đong đầy. Có lẽ chính vì vậy mà tổ quốc còn ghi dấu ấn của cha của mẹ bằng Hòn trống mái, núi Vọng Phu, Hòn Trống Mái… đi vào năm tháng.

Câu thơ “Cái kèo cái cột thành tên”, lưu ý cho người đọc nhớ đến tục làm nhà cổ của người Việt. Đó là tục làm nhà sử dụng kèo cột giằng giữ vào nhau làm cho nhà vững chãi, bền chặt tránh được mưa gió, thú dữ. Đó cũng là ngôi nhà tổ ấm cho mọi gia đình sum họp bên nhau; siêng năng tích góp mỡ màu dồn thành sự sống. Từ đó, tục đặt tên con “cái Kèo, cái Cột” cũng phát hành.

Đâu chỉ có những vẻ đẹp trên, dân tộc ta còn có truyền thống lao động siêng năng, chịu thương chịu khó “Hạt gạo phải một nắng hai sương xay giã dần sàng”. Thành ngữ “Một nắng hai sương” gợi nên sự siêng năng chăm chỉ của cha ông ta những ngày long đong, lận đận trong đời sống nông nghiệp lỗi thời. Đó là truyền thống lao động siêng năng, chịu thương chịu khó. những động từ “Xay – giã – dần – sàng” là quy trình sản xuất ra hạt gạo.

Để làm ra hạt gạo ta ăn hằng ngày, người nông dân phải trải qua bao nắng sương vất vả gieo cấy, xay giã, giần sàng. Thấm vào trong hạt gạo bé nhỏ ấy là mồ hôi vị mặn nhọc nhằn của giai cấp nông dân. Bởi vậy, ăn hạt gạo dẻo thơm ta phải nhớ công ơn người đã làm ra nó:

Ai ơi bưng bát cơm đầy

Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần.

Câu thơ sau cùng khép lại một câu khẳng định với niềm tự hào: “tổ quốc có từ ngày đó”.“Ngày đó” là ngày nào ta không rõ nhưng chắc chắn “ngày đó” là ngày ta có truyền thống, có phong tục tập quán, có văn hóa mà có văn hóa tức là có tổ quốc. Đúng như lời Bác dặn trước lúc đi xa “Rằng muốn yêu tổ quốc mình, phải yêu những câu hát dân ca”.

Dân ca, ca dao là đặc trưng văn hóa của Việt Nam, muốn yêu tổ quốc trước hết phải yêu và quý trọng văn hóa nước nhà. Bởi văn hóa đó là tổ quốc. Thật đáng yêu đáng quý, đáng tự hào biết bao lời thơ dung dị, ngọt ngào của Nguyễn Khoa Điềm.

Thành công của đoạn thơ trên là nhờ vào việc vận dụng khéo léo vật liệu văn hóa dân gian như phong tục ăn trầu, tục búi tóc, truyền thống đánh giặc, truyền thống nông nghiệp. Nhà thơ sáng tạo thành ngữ dân gian, ca dao tục ngữ, thành ngữ…Điệp ngữ tổ quốc được nhắc lại nhiều lần.

Nhà thơ luôn viết hoa hai từ tổ quốc tạo sự thành kính, thiêng liêng… toàn bộ làm nên một đoạn thơ đậm đà không gian văn hóa người Việt. Ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, lời thơ nhẹ nhàng đúng giọng thủ thỉ tâm tình nhưng vẫn mang đậm hồn thơ triết lí. Đoạn thơ ta vừa phân tích ở trên là đoạn thơ hay nhất trong bài thơ tổ quốc.

Qua đoạn thơ, nhà thơ đã mang đến cho người đọc vẻ đẹp của một tổ quốc giàu văn hóa cổ truyền. tổ quốc của truyền thống, phong tục tươi đẹp mang đậm dấu ấn của tư tưởng tổ quốc của nhân dân.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

4


Bình An

Bài văn phân tích tác phẩm “tổ quốc” của Nguyễn Khoa Điềm số 4

tổ quốc” là một trong những bài thơ hay nói về khát vọng yêu nước trong những một con người Việt Nam. Dưới đây là bài phân tích về những trích đoạn trong bài thơ “tổ quốc” (trích trường ca “Mặt đường khát vọng”) của Nguyễn Khoa Điềm.

“Khi ta lớn lên tổ quốc đã có rồi

(…) tổ quốc có từ ngày đó”.

Nguyễn Khoa Điềm thuộc lớp thi sĩ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ. Những năm 1970, 1971,… ông sống và hoạt động tại chiến trường Trị – Thiên; trường ca “Mặt đường khát vọng” được ông sáng tác vào thời gian ấy. Chương V “tổ quốc” trích trong trường ca “Mặt đường khát vọng”.

Phần đầu 42 câu tác giả nhận diện tổ quốc có nguồn gốc nhiều năm. Tục ăn trầu, cổ tích Trầu – Cau, truyền thuyết Thánh Gióng dùng gốc tre đánh đuổi giặc Ân mà “mẹ thường hay kể”:

“tổ quốc bắt đầu với miếng trầu hiện nay bà ăn

tổ quốc lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc”.

Nhà thơ cảm nhận tổ quốc trong dòng chảy thời gian “đằng đẵng”, trên không gian địa lí “mênh mông”, qua sự tích “Trăm trứng” và giỗ Tổ Hương Vương. Nhà thơ bằng giọng tâm tình đã dẫn hồn ta ngược thời gian bốn nghìn năm trở về cội nguồn tổ quốc:

“Đất là nơi Chim về

Nước là nơi Rồng ở

Lạc Long Quân và Âu Cơ

Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng

(…) Hằng năm ăn đâu làm đâu

Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ”.

Tục “bới tóc xăm mình” của người Lạc Việt, câu ca dao “gừng cay muối mặn” nói về đạo vợ anh xã, ngôn ngữ dân tộc hình thành, phát triển, nên “cái kèo, cái cột thành tên”, công việc cấy cày làm ăn “xay, giã, giần, sàng” được chỉ rõ. Cội nguồn “tổ quốc có từ ngày đó”. tổ quốc trong quá khứ mang vẻ đẹp kì diệu, huyền thoại:

“Đất là nơi “con chim Phượng Hoàng bay về hòn núi bạc”

Nước là nơi “con cá Ngư Ông móng nước biển khơi”.

tổ quốc hiện tại gắn bó yêu thương với mọi người, “trong anh và em hôm nay – Đều có một phần tổ quốc”. Mai này tổ quốc nhiều “mơ mộng”. Yêu nước là nghĩa vụ thiêng liêng:

“Em ơi em tổ quốc là máu xương của tôi

phải ghi nhận gắn bó và san sẻ

phải ghi nhận hóa than cho dáng hình xứ sở

Làm nên tổ quốc muôn đời”.

Phần thứ hai có 68 câu (Văn 12 chỉ trích học 47 câu) nói về tư tưởng “tổ quốc của Nhân Dân”. Nhân Dân sáng tạo ra tổ quốc. những danh lam thắng cảnh đều hình tượng cho phẩm chất cao đẹp, “lối sống” của ông cha như tình nghĩa vợ anh xã thủy chung, tình yêu lứa đôi thắm thiết, sức mạnh quật khởi, tinh thần đại đoàn kết của dân tộc, truyền thống hiếu học của Nhân Dân ta:

“Những người vợ nhớ anh xã còn góp cho tổ quốc những núi Vọng Phu

Cặp vợ anh xã yêu nhau góp nên hòn Trống Mái

Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại

99 con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương”.

Núi Bút non Nghiên, vịnh Hạ Long, ông Đốc Ông Trang… đều do Nhân Dân ta “góp cho”, “cùng góp cho”, “góp tên” – mà tổ quốc đẹp tươi, hùng vĩ. “Bốn nghìn lớp người” đã đem mồ hôi, xương máu ra xây dựng và bảo vệ tổ quốc: “Khi có giặc người con trai ra trận – Người con gái trở về nuôi cái cùng con – Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh”. Nhân Dân đã sáng tạo ra tổ quốc và làm chủ tổ quốc. Họ là những con người vô danh mà vĩ đại:

“Họ đã sống và chết

Giản dị và bình tâm

Không ai nhớ mặt đặt tên

Nhưng họ đã làm ra tổ quốc”.

Nhân Dân là người sản xuất “giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng”. Nhân Dân đã sáng tạo ra ngôn ngữ “truyền giọng điệu của tôi cho con tập nói”. Nhân Dân đã diệt thù trong giặc ngoài để giữ gìn tổ quốc, làm cho tổ quốc ngày thêm giàu đẹp:

“Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm

Có nội thù thì vùng lên đánh bại

Để tổ quốc này là tổ quốc Nhân Dân

tổ quốc của Nhân Dân, tổ quốc của ca dao thần thoại”.

Tóm lại, Nguyễn Khoa Điềm đã vận dụng sáng tạo tục ngữ, ca dao, dân ca, truyện cổ, phong tục, ngôn ngữ để cảm nhận về nguồn gốc nhiều năm của tổ quốc, khẳng định Nhân Dân vĩ đại đã sáng tạo ra tổ quốc và làm chủ tổ quốc. Chương “tổ quốc” chứa chan tình yêu và niềm tự hào dân tộc.

Đoạn thơ 9 câu dưới đây trích trong phần đầu chương “tổ quốc” thuộc trường ca “Mặt đường khát vọng” (1971) của Nguyễn Khoa Điềm:

“Khi ta lớn lên tổ quốc đã có rồi

………………………………………..

tổ quốc có từ ngày đó”.

Đoạn thơ đã nói lên một cách dung dị mà thấm thía về cội nguồn sâu xa của tổ quốc. Giọng điệu thủ thỉ tâm tình, nhà thơ gợi lên một không khí trầm lắng như kể chuyện cổ tích, như dẫn hồn ta ngược thời gian trở về cội nguồn tổ quốc và dân tộc. Bốn chữ “ngày xửa ngày xưa” dùng rất khéo:

“Khi ta lớn lớn tổ quốc đã có rồi

tổ quốc có trong những cái “ngày xửa ngày xưa” mẹ thường hay kể”.

Chữ “có” trong “đã có rồi”, “tổ quốc có trong những cái…” đã làm cho ý thơ khẳng định, tỏa sáng niềm tin. Tục ăn trầu, truyện cổ tích Trầu – Cau gợi lên hình ảnh tổ quốc. Nước xa xưa, “tổ quốc bắt đầu”… Truyền thuyết Thánh Gióng cho biết sự vươn mình của dân tộc, ghi lại sức mạnh quật khởi “tổ quốc lớn lên”. Câu thơ mở rộng đến 12, 13 chữ, với cách gieo vần lưng (đầu – trầu, ăn – dân) nên vẫn thanh thoát, giàu âm điệu:

“tổ quốc bắt đầu với miếng trầu hiện nay bà ăn

tổ quốc lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc”.

Hai chữ “lớn lên” liên tưởng đến hình ảnh chú bé làng Gióng lên ba vươn vai thành một tráng sĩ oai phong lẫm liệt khi tổ quốc bị giặc Ân xâm lược. Rồi nhà thơ nói về phong tục và đạo lí đẹp đẽ nhiều năm của nhân dân ta. Phong tục “búi tóc” của người Lạc Việt. Câu ca dao nói về đạo vợ anh xã: “Tay bưng chén muối đĩa gừng – Gừng cay muối mặn xin nhớ là nhau” đã nhập hồn vào câu thơ Nguyễn Khoa Điềm:

“Tóc mẹ thì bới sau đầu

Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn”.

Chuyện “ngày xửa ngày xưa” nhưng vẫn hiện diện trên “tóc mẹ”, trong tình thương của “cha mẹ” hiện nay. “tổ quốc đã có rồi”, “tổ quốc có…”, “tổ quốc bắt đầu”, “tổ quốc lớn lên” và tổ quốc đang hiện diện quanh ta, gần gũi ta. Tiếp theo, nhà thơ lấy sự hình thành và phát triển ngôn ngữ dân tộc để nói về nguồn gốc nhiều năm của tổ quốc. Mỗi vật dụng đều có một chiếc tên riêng: “Cái cột, cái kèo thành tên”.

Nhân Dân ta có nghề trồng lúa nước nhiều năm. Nghề trồng lúa nước tạo thành nền văn minh sông Hồng. Khi hạt gạo được sáng tạo thành bằng công sức “một nắng hai sương”, thì ngôn từ “xay, giã, giần, sàng” cũng xuất hiện. Tiếng Việt là của quý nhiều năm của tổ quốc ta, Nhân Dân ta. Cách nói của Nguyễn Khoa Điềm thật ý vị:

“Cái kèo, cái cột thành tên

Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng

tổ quốc có từ ngày đó”.

Lấp lánh trong đoạn thơ là hình ảnh tổ quốc thân yêu. Quá khứ của tổ quốc “ngày xửa ngày xưa” đồng hiện trong “miếng trầu hiện nay bà ăn”. Có tổ quốc anh hùng “biết trồng tre mà đánh giặc”. Có tổ quốc siêng năng trong lao động sản xuất: “Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng”. Có nền văn hóa giàu bản sắc, nền văn hiến rực rỡ quy tụ qua thuần phong mĩ tục (tục ăn trầu, tục bới tóc), qua tục ngữ ca dao “gừng cay muối mặn”, qua cổ tích thần thoại, truyền thuyết.

Đoạn thơ 9 câu, 85 chữ mà không hề có một từ Hán Việt nào. Ngôn từ bình dị, cách nói biểu cảm thân thương. Hiện diện trong đoạn thơ là: ta, dân mình, bà, cha, mẹ. Có miếng trầu, cây tre, tóc mẹ,… Có “gừng cay muối mặn”, cái kèo, cái cột, hạt gạo, v.v… Thật là thân thuộc và gần gũi, sâu xa và thấm thía, rung động. Tưởng tượng thì phong phú, liên tưởng thì bao la.

Đoạn thơ đã “nhịp mãi lên một tấm lòng sứ điệp” để ta yêu thêm tổ quốc và tự hào về tổ quốc. Cấu trúc đoạn thơ: “tổng – phân – hợp”; mở đầu là câu “Khi ta lớn lên tổ quốc đã có rồi”, khép lại đoạn thơ là câu “tổ quốc có từ ngày đó”. Tính chính luận đã làm sáng đẹp chất trí tuệ phối kết hợp hài hòa với chất trữ tình đậm đà. Đoạn thơ mang vẻ đẹp độc đáo nói về cội nguồn tổ quốc thân yêu.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

5


Bình An

Bài văn phân tích tác phẩm “tổ quốc” của Nguyễn Khoa Điềm số 5

Nền văn học Việt Nam giai đoạn năm 1945-1975 là nền văn học mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, bên cạnh những đề tài “lực lượng vũ trang- chiến tranh cách mạng” thì những đề tài xây dựng tổ quốc, hoặc ca tụng tổ quốc cũng được nhiều tác giả chọn đưa vào tác phẩm của tôi mới những vần thơ, lời văn chân thành tha thiết, thấm đẫm hào khí dân tộc.

Nguyễn Khoa Điềm là một trong những nhà thơ trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cũng chọn cho mình đề tài tổ quốc, giữa những năm tháng trận đánh đấu của nhân dân đang vào lúc cao trào sục sôi máu lửa. Thế nhưng Nguyễn Khoa Điềm không đặt nặng trong tác phẩm của tôi màu sắc tuyên truyền, không ồn ào, rộn rã mà ông cho riêng cho mình một chất giọng êm dịu, thiết tha, gần gũi và thân thuộc.

Nguyễn Khoa Điềm đã nhìn tổ quốc bằng một cách rất riêng, bằng một cảm xúc mới lạ giữa thời chinh chiến “hoa lửa”, ông nhìn nhận Tổ quốc từ những điều giản dị, từ những con người rất đỗi bình thường. Sử dụng thành công giọng thơ mang tính triết luận trữ tình, đặc biệt là sự phối kết hợp với những vật liệu văn hóa dân gian lấy từ vốn hiểu biết rộng lớn của nhà thơ về văn hóa ngàn đời của dân tộc.

toàn bộ đã tạo thành một tổ quốc với vẻ giản dị, thân thương, tổ quốc của nhân dân, một tổ quốc bước ra từ những mẩu truyện kể, những truyền thuyết, những phong tục tập quán của 4000 năm văn hiến tự hào.

“Khi ta lớn lên tổ quốc đã có rồi

tổ quốc có trong những cái “ngày xửa ngày xưa…” mẹ thường hay kể

tổ quốc bắt đầu với miếng trầu hiện nay bà ăn

tổ quốc lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc

Tóc mẹ thì bới sau đầu

Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn

Cái kèo, cái cột thành tên

Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng

tổ quốc có từ ngày đó…”

Trong trích đoạn tổ quốc, trước tiên tác giả đi vào phân tích và làm rõ vấn đề tổ quốc có từ lúc nào. Trong 9 câu thơ đầu, Nguyễn Khoa Điềm đã chỉ ra rằng tổ quốc đã có từ rất nhiều năm, gắn liền với những truyền thuyết, với những mẩu truyện cổ tích đã có từ những ngày xửa, ngày xưa.

Câu “tổ quốc bắt đầu với miếng trầu hiện nay bà ăn” gợi cho chúng ta nhớ đến sự tích Trầu Cau, khơi gợi lại truyền thống đẹp đẽ của dân tộc Việt Nam, ấy là tình nghĩa anh em sâu đậm, tình nghĩa vợ anh xã son sắt thủy chung.

không những vậy từ hình ảnh miếng trầu bà ăn tác giả còn gợi lại những cái phong tục đẹp của nhân dân ta ấy là tục ăn trầu nhuộm răng có có từ thuở vua Hùng dựng nước và giữ nước. Cùng với sự tích Trầu Cau, thì qua câu thơ “tổ quốc lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc” tác giả lại tiếp tục lưu ý chúng ta nhớ về truyền thuyết Thánh Gióng cực kì quen thuộc, lưu ý về truyền thống yêu nước, bất khuất đứng lên chống giặc ngoại xâm của dân tộc.

Như vậy, rất có thể thấy rằng tổ quốc hình thành từ nền tảng là tình nghĩa sâu nặng của dân tộc, thế nhưng tổ quốc chỉ rất có thể lớn lên khi nhân dân ta có được tinh thần yêu nước, có lấy được lòng dũng cảm, kiên định đấu tranh chống giặc ngoại xâm để giữ nước. Đi từ những mẩu truyện cổ tích, những truyền thuyết xa xưa thì tác giả lại tiếp tục chỉ ra tổ quốc có từ rất nhiều năm, bắt đầu từ những thuần phong mỹ tục.

“Tóc mẹ thì bới sau đầu”, nhắc người đọc nhớ lại phong tục búi tóc thành búi tóc tròn, thấp sau gáy của những bà, những mẹ thời xưa. Mà dù cho đã qua hàng nghìn năm bị phong kiến phương Bắc đô hộ, mấy chục năm trời Pháp thuộc, thế nhưng cho tới khi Nguyễn Khoa Điềm viết Trường ca Mặt đường khát vọng, búi tóc ấy vẫn giữ cho mình dáng vẻ thuở đầu không đổi, vẫn kiên định trụ vững sau gáy của người phụ nữ Việt Nam.

“Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn”, đó là đại diện cho truyền thống coi trọng tình nghĩa vợ anh xã, càng trong những thử thách, gian lao thì vợ anh xã lại càng trở thành thương yêu và gắn kết bền chặt với nhau hơn.

Thứ ba nữa, tổ quốc có từ rất nhiều năm được hình thành cùng với quy trình phát triển của con người Việt Nam trong cuộc sống đời thường. “Cái kèo cái cột thành tên”, từ chỗ con người ta sống tạm bợ trong những hang đá thô sơ, từ nhân dân ta đã bắt đầu chủ động hơn trong cuộc sống biết xây dựng nên những mái nhà che mưa, che nắng cho mình.

Rồi “Hạt gạo phải một nắng hai sương xay giã dần, sàng”, ta cũng thấy được từ cái chỗ nhân dân ta sống tùy theo thiên nhiên với công việc hái lượm bấp bênh, thì người Việt Nam đã bắt đầu biết đến nền văn minh lúa nước, biết tạo ra hạt thóc hạt gạo làm lương thực chính để phục vụ cuộc sống.

Và sau cùng sau khi sử dụng ba ý trên để reply cho câu hỏi tổ quốc có từ khi nào, tác giả đã chốt lại bằng câu thơ “tổ quốc có từ ngày đó”, “ngày đó” là ngày những truyền thuyết, cổ tích phát hành, là ngày chúng ta có thuần phong mỹ tục, là ngày mà chúng ta biết trồng tre diệt giặc, cũng là ngày bà con người Việt Nam ta biết dựng nhà, trồng lúa.

rất có thể nói tổ quốc mà Nguyễn Khoa Điềm gợi lại trải qua những vật liệu văn hóa dân gian nhiều năm của dân tộc đã mang đến cho người đọc những xúc cảm gần gũi, thân thuộc và bình dị, để lại trong tâm hồn con người cảm giác tha thiết và gắn bó cực kì.

“Đất là nơi anh đến trường

Nước là nơi em tắm

tổ quốc là nơi ta hò hẹn

tổ quốc là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm

Đất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc”

Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi

Thời gian đằng đẵng

Không gian mênh mông

tổ quốc là nơi dân mình sum họp”

Sau câu hỏi tổ quốc có từ lúc nào, Nguyễn Khoa Điềm lại tiếp tục khai thác hình tượng tổ quốc ở câu hỏi “tổ quốc là gì?”. Ông không reply khái niệm này theo cách của những nhà khoa học mà là dưới cương vị của một nhà thơ, dùng lối chiết tự, tách tổ quốc thành hai thành tố là “Đất” và “Nước” để mà định nghĩa, giúp người đọc có được cách hiểu chính xác nhất, đầy đủ nhất về khái niệm tổ quốc.

Về phương diện địa lý Nguyễn Khoa Điềm ví ““Đất là nơi anh đến trường/Nước là nơi em tắm” là không gian gần gũi, thân thuộc đối với mỗi người trong cuộc sống đời thường. Rồi “tổ quốc là nơi ta hò hẹn/tổ quốc là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm”.

Tác giả đã hợp hai thành tố lại thành “tổ quốc” theo thời gian anh và em lớn dần lên, nếu trước đây anh và em là hai cá thể và tổ quốc cũng tách riêng ra thì hiện nay anh và em đã hợp lại thành một cặp tình nhân “hò hẹn” và tổ quốc trở thành một chiếc không gian riêng tư, thầm kín cho tình yêu của lứa đôi. không những thế “Đất là nơi con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc…

tổ quốc là nơi dân mình sum họp” lại cho ta thấy tổ quốc ở một dáng vẻ khác, nếu ở trên ta thấy một tổ quốc nhỏ xíu dung dị thì tới những câu thơ này ta lại thấy tổ quốc mang một dáng vẻ kỳ vĩ và lớn lao được đo bằng sải cánh của con chim phượng hoàng bay về núi bạc, được đo bằng sự mênh mông, rộng lớn của biển khơi.

Và sau cùng dù đi đâu về đâu thì phượng hoàng cũng phải về núi, cá ngư ông thì phải vùng vẫy ở biển và dân tộc Việt Nam thì phải sum họp ở nơi có tên là tổ quốc. Như vậy rất có thể tóm gọn lại tổ quốc đó là nơi trở về của những tâm hồn thiết tha với quê nhà.

“Đất là nơi Chim về

Nước là nơi Rồng ở

Lạc Long Quân và Âu Cơ

Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng

Những ai đó đã khuất

Những ai hiện nay

Yêu nhau và sinh con đẻ cái

Gánh vác phần người đi trước để lại

Dặn dò con cháu chuyện mai sau

Hằng năm ăn đâu làm đâu

Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ”

Về phương diện thời gian lịch sử, tác giả đã reply cho câu hỏi tổ quốc là gì bằng một chiếc nhìn tổng thể suốt chiều dài thời gian lịch sử để đưa ra một câu reply chính xác nhất. Trong quá khứ đó là một tổ quốc thiêng liêng và lớn lao, khi tác giả lưu ý về truyền thuyết Lạc Long Quân – Âu Cơ, lưu ý về giống nòi cao quý của dân tộc ta, vốn là con rồng cháu tiên.

Đồng thời còn lưu ý về truyền thống hào hùng dựng nước và giữ nước của cha ông, mở ra triều đại trước tiên của VN, triều đại vua Hùng tục truyền nối dài đến 18 đời. Kèm với đó là những lời dặn dò chân thành tha thiết, phải ghi nhận kế tục hương hỏa, duy trì nòi giống dân tộc, phải đứng lên mạnh giữ gìn non sông gấm vóc, và luôn nhớ về nguồn cội của tôi với tấm lòng thành kính, trân trọng.

“Trong anh và em hôm nay

Đều có một phần tổ quốc

Khi hai đứa cầm tay

tổ quốc trong chúng mình hài hòa nồng thắm

Khi chúng ta cầm tay mọi người

tổ quốc vẹn tròn, to lớn”

Trong hiện tại, tổ quốc hiện lên một cách gần gũi và thân thuộc, hiện diện ở trong những con người, gồm có ngôn ngữ để con người giao tiếp tư duy, gồm có cả những phong tục tập quán đẹp đẽ vẫn tồn tại trong từng nếp sống. “Khi hai đứa cầm tay/tổ quốc trong chúng mình hài hòa nồng thắm” là sự tiếp nối của ý thơ “tổ quốc là nơi ta hò hẹn”, thì đến đây trên cơ sở tình yêu lứa đôi mỗi con người phải có trách nhiệm xây dựng một tổ ấm để góp phần xây dựng một “tổ quốc hài hòa nồng thắm”.

không những dừng lại ở đó, trách nhiệm của mỗi con người còn là “cầm tay mọi người”, phải nối vòng tay lớn, xây dựng khối đại đoàn kết xã hội vững mạnh để tạo thành một “tổ quốc vẹn trong to lớn” để sánh vai với những cường quốc năm châu. không những vậy hình ảnh thơ “cầm tay mọi người” còn lưu ý về nguồn gốc tổ tiên, nhắc nhở chúng đều cùng một mẹ sinh ra, vậy cho nên phải ghi nhận yêu thương đùm bọc lẫn nhau.

“Mai này con ta lớn lên

Con sẽ mang tổ quốc đi xa

Đến những tháng ngày mơ mộng”

Trong tương lai đó là một tổ quốc với triển vọng tươi sáng, những thế hệ tương lai được kỳ vọng, được đặt lên vai cái trách nhiệm lớn lên cả về trí tuệ lẫn tầm vóc, để làm nên những điều kỳ diệu cho cả dân tộc cả tổ quốc. Con sẽ đưa tổ quốc đi xa, sánh vai cùng với những cường quốc trên toàn cầu, đưa tổ quốc trở thành giàu đẹp vững mạnh gấp nhiều lần hôm nay.

Sau khi đã định nghĩa một cách rõ ràng tổ quốc cả về không gian và thời gian, cả về địa lý lẫn lịch sử thì Nguyễn Khoa Điềm đã chốt lại bằng những câu thơ rất tha thiết về trách nhiệm của mọi cá nhân đối với tổ quốc.

“Em ơi em tổ quốc là máu xương của tôi

phải ghi nhận gắn bó san sẻ

phải ghi nhận hoá thân cho dáng hình xứ sở

Làm nên tổ quốc muôn đời…”

Lời thơ như là lời tâm tình của người anh với người em, lời tâm tình của chàng trai đối với cùng một người con gái, cũng là lời lay tỉnh của nhà thơ, của thế hệ trước với thế hệ sau, cũng là lời lay tỉnh của cách mạng đối với tuổi trẻ đô thị vùng tạm chiếm miền Nam, những con người đang ngủ quên trong cuộc sống hưởng thụ.

tổ quốc là một khái niệm trừu tượng, thế nhưng khi so sánh tổ quốc với hình ảnh “máu xương của tôi” thì đó lại là một khái niệm cụ thể, hữu hình. Đây cũng là phần nối tiếp trong ý thơ “trong anh và em hôm nay đều có một phần tổ quốc”, thì ở đây Nguyễn Khoa Điềm đã chỉ rõ tổ quốc là máu xương của mỗi con người, đã là phần gốc rễ cốt yếu trong mọi cá nhân, ai cũng phải có.

Điệp từ “phải ghi nhận” trong hai câu thơ sau là biểu lộ của một mệnh lệnh, xác định trách nhiệm cho từng người, yêu nước không phải là một khái niệm chung chung, một tư tưởng trừu tượng mà yêu nước phải triển khai bằng hành động. Mỗi con người cần phải ghi nhận “gắn bó san sẻ”, đặc biệt phải “biết hóa thân cho dáng hình xứ sở”, dâng cả sự sống, thanh xuân cho tổ quốc, coi trọng tổ quốc hơn cả hạnh phúc riêng của bản thân mình.

Sau những dòng thơ nêu nên sự hình thành và phát triển của tổ quốc thì Nguyễn Khoa Điềm bắt đầu đi vào nhấn mạnh tư tưởng tổ quốc của nhân dân, bằng câu hỏi tổ quốc do ai làm nên.

“Những người vợ nhớ anh xã còn góp cho tổ quốc những núi Vọng Phu

Cặp vợ anh xã yêu nhau góp nên hòn Trống Mái

Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại

Chín mươi chín con voi góp mình dựng Đất tổ Hùng Vương

Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm

Người học trò nghèo giúp cho tổ quốc mình núi Bút, non Nghiên.

Con cóc, con gà quê nhà cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh

Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm”

Trên phương diện không gian địa lý, tác giả đã cảm nhận tổ quốc qua những địa danh thắng cảnh nổi tiếng của Việt Nam bằng nhắc tên chúng một cách dày đặc trong từng ý thơ. Đặc biệt những địa danh này vốn trở thành quen thuộc với người dân Việt Nam và gắn liền với những cổ tích, những thần thoại trong văn hóa dân tộc, mục đích là để gửi gắm niềm tự hào của tác giả đối với quê nhà, tổ quốc.

không những vậy, sâu xa hơn nữa việc Nguyễn Khoa Điềm liệt kê những địa danh như vậy cũng là nhằm kể tên những vùng đất tương ứng trên dải đất hình chữ S, ví như “núi Vọng Phu” ngự ở Lạng Sơn, và còn ở rất nhiều nơi khác, lưu ý về hình ảnh những người vợ chờ anh xã đi đánh giặc trên khắp Tổ quốc.

Rồi “hòn Trống Mái” thì ở Thanh Hóa, “trăm ao đầm” mà gót ngựa Thánh Gióng đi qua thì rải rác khắp mọi miền tổ quốc, “đất tổ Hùng Vương” là vùng Phú Thọ, “núi Bút, non Nghiên” ở Quảng Ngãi, “Hạ Long” ở TP Quảng Ninh, “ông Đốc, ông Trang, bà Đen, bà Điểm” là những địa danh ở mảnh đất miền Nam.

Thêm nữa, việc nhắc đến những vùng đất khắp Tổ quốc như vậy còn là để nhấn mạnh việc tổ quốc chúng ta là một dải non sông nối tiếp, từ đó gợi lên ý chí thống nhất Tổ quốc, Nam Bắc một nhà của nhân dân ta. Đồng thời những danh lam thắng cảnh ấy cũng là hình tượng cho vẻ đẹp tâm hồn Việt, đó là đức tính thủy chung son sắt trong tình cảm vợ anh xã, là ý chí quyết tâm chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, nhắc lại thuở dựng nước thiêng liêng và hào hùng, rồi còn gợi lại cả truyền thống hiếu học của nhân dân ta, đặc biệt là cả những điều giản dị nhất như con cóc, con gà cũng làm nên thắng cảnh cho quê nhà.

Ngoài ra việc sử dụng cấu trúc thơ độc đáo, một bên là con người, sự vật sự việc dung dị đại diện cho hình ảnh của nhân dân, một bên là những địa danh, những thắng cảnh kỳ vĩ, lớn lao đại diện cho hình ảnh của tổ quốc được nối với nhau bằng những từ “góp”, “góp tên”, “góp mình”,… Đã khẳng định một cách mạnh mẽ tư tưởng tổ quốc của nhân dân bởi tổ quốc là do nhân dân cùng góp công, góp sức làm nên của Nguyễn Khoa Điềm.

“Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi

Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha

Ôi tổ quốc sau bốn ngàn năm đi đâu ta cũng thấy

Những cuộc đời đã hoá núi sông ta…”

Sau khi diễn giải tư tưởng tổ quốc của nhân dân ở những chi tiết, thì Nguyễn Khoa Điềm chuyển sang nâng ý thơ lên tầm khái quát. Khẳng định tầm vóc kỳ của tổ quốc vĩ ở phương diện địa lý qua hình ảnh “khắp ruộng đồng gò bãi” để mở ra một không gian lớn lao cao rộng, sau đó khẳng định sự trường tồn, vĩnh hằng của tổ quốc ở phương diện lịch sử “Ôi tổ quốc sau bốn ngàn năm”.

Từ đó dẫn dắt, khẳng định nhân dân đó là người đã tạo ra tổ quốc vừa kỳ vĩ, vừa có bề dày lịch sự ở những ý thơ rất hay “Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi/Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha” cùng với “Ôi tổ quốc sau bốn ngàn năm đi đâu ta cũng thấy/Những cuộc đời đã hoá núi sông ta…”. Rất tha thiết, nồng đượm yêu thương khẳng định tổ quốc đã được tạo thành bằng chính cuộc đời của những thế hệ cha ông, bằng những dáng hình, những ước mơ, những phong tục tập quán đã in hằn trên dáng vẻ của tổ quốc.

“Em ơi em

Hãy nhìn rất xa

Vào bốn ngàn năm tổ quốc

Năm tháng nào cũng người người lớp lớp

Con gái, con trai bằng tuổi chúng ta

siêng năng làm lụng

Khi có giặc người con trai ra trận

Người con gái trở về nuôi cái cùng con

Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh

Nhiều người trở thành anh hùng

Nhiều anh hùng cả anh và em đều nhớ

Những em biết không

Có biết bao người con gái, con trai

Trong bốn ngàn lớp người giống ta lứa tuổi

Họ đã sống và chết

Giản dị và bình tâm

Không ai nhớ mặt đặt tên

Nhưng họ đã làm ra tổ quốc”

Tư tưởng tổ quốc của nhân dân tiếp tục được khẳng định trải qua phương diện thời gian lịch sử. Trong suốt 4000 năm nhân dân đã chăm chỉ siêng năng để xây dựng tổ quốc, khi có chiến tranh thì người con trai lập tức ra trận bảo vệ tổ quốc. Còn người con gái trở thành người chèo chống gia đình, nuôi con cái, thế nhưng mang trong mình dòng máu Bà Trưng Bà Triệu, họ cũng trở thành mạnh mẽ kiên định cả trong chiến đấu.

Sự anh dũng của ông cha ta trong công cuộc chống giặc ngoại xâm đã khiến họ trở thành những người anh hùng lưu danh sử sách, thế nhưng bên cạnh những con người hữu danh thì người ta thấy nhiều hơn thế là những con người vô danh “không ai nhớ mặt đặt tên”. Dù không ai nhớ mặt đặt tên, thế nhưng những thế hệ sau vẫn luôn trân trọng, yêu quý bởi họ đó là người làm ra tổ quốc.

“Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng

Họ truyền lửa cho từng nhà từ hòn than qua con cúi

Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói

Họ gánh theo tên xã, tên làng trong những chuyến di dân

Họ đắp đập be bờ cho người sau trồng cây hái trái

Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm

Có nội thù thì vùng lên đánh bại

Để tổ quốc này là tổ quốc Nhân dân”

Nhân dân không những là người xây dựng và bảo vệ tổ quốc mà nhân dân còn là người làm nhiệm vụ cực kì thiêng liêng ấy là truyền lại cho thế hệ tiếp nối những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần. Cha ông đã để lại cho con cháu nền văn minh nông nghiệp lúa nước ngàn đời, truyền cho con cháu ngọn lửa sáng ngời sau bao năm tháng sống trong tối tăm, lạnh lẽo.

Truyền cho con thứ ngôn ngữ tiếng nói của riêng dân tộc mình, giữ cho mình cái văn hóa làng, xã trong những chuyến di dân, tạo dựng cơ sở vật chất, đất đai để cho những thế hệ kế tiếp phát triển trên mảnh đất ấy.

“tổ quốc của Nhân dân,

tổ quốc của ca dao thần thoại

Dạy anh biết “yêu em từ thuở trong nôi”

Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội

Biết trồng tre đợi ngày thành gậy

Đi trả thù mà không sợ lâu dài”

Trên bình diện văn hóa, Nguyễn Khoa Điềm cũng chỉ ra những nét đẹp riêng của tâm hồn Việt, của văn hóa Việt. Vì “tổ quốc của nhân dân, tổ quốc của ca dao thần thoại” vậy cho nên khi nhìn vào kho tàng văn học dân gian đều thấy hiện lên diện mạo văn hóa của tổ quốc, thấy được hình bóng của nhân dân những con người mang đậm nét truyền thống của dân tộc.

Tác giả đã chọn ra ba câu ca dao tiêu biểu để gợi ra 3 vẻ đẹp tâm hồn của người Việt Nam, cũng đó là 3 nét đẹp văn hóa tiêu biểu” của dân tộc Việt nói chung. “Yêu em từ thuở trong nôi/Em nằm em khóc anh ngồi anh ru”, nét đẹp say đắm trong tình yêu, biết yêu thương những con người ở xung quanh mình.

Tiếp theo là câu “Cầm vàng mà lội qua sông/Vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng”, từ đó thấy được vẻ đẹp của lòng biết quý trọng tình nghĩa hơn là những giá trị vật chất tầm thường. sau cùng là câu tục ngữ “Thù này ắt hẳn còn lâu/Trồng tre thành gậy gặp đâu đánh què”, gợi ra vẻ đẹp bền chắc trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta từ bao đời nay.

“Ôi những dòng sông bắt nước từ lâu

Mà khi về tổ quốc mình thì bắt lên câu hát

Người đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thác

Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi”

Kết lại đoạn trích tổ quốc của trường ca Mặt đường khát vọng thì tác giả đã nêu lên những cảm nhận rất tinh ý về vẻ đẹp của quê nhà, của tổ quốc. “dòng sông” dù có bắt nguồn từ đâu thì khi chảy đến mảnh đất quê nhà cũng đều mang giọng hát của tổ quốc, mang đậm bản sắc của dân tộc. Mỗi con người Việt Nam, trong công cuộc mưu sinh, lao động trên cái dòng chảy ấy lại có những cách ứng xử không giống nhau rồi sau cùng tạo thành một dòng chảy văn hóa nối dài suốt 4000 ngàn năm văn hiến.

Nguyễn Khoa Điềm qua đoạn trích tổ quốc với giọng văn chính luận trữ tình đã bộc lộ suy nghĩ sâu sắc và nói lên những tình cảm tha thiết của tôi đối với tổ quốc trên nhiều bình diện, địa lý, lịch sử, và bình diện văn hóa với tư tưởng bao trùm xuyên suốt ấy là tư tưởng tổ quốc của nhân dân.

Về nghệ thuật đoạn trích được viết theo lối quy nạp, biểu lộ nội dung chính luận một cách trữ tình bằng phương pháp mượn những vật liệu văn hóa dân gian thân thuộc, mượt mà, êm ái, mang đến cho người đọc những xúc cảm thẩm mỹ độc đáo. Giọng điệu xuyên suốt đoạn trích là giọng thơ tâm tình tình, tha thiết, sâu lắng như giọng điệu của đôi lứa yêu nhau làm cho nội dung nghị luận vốn khô khan trở thành mềm mại, ngọt ngào thấm sâu vào lòng người.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

6


Bình An

Bài văn phân tích tác phẩm “tổ quốc” của Nguyễn Khoa Điềm số 6

tổ quốc là đề tài muôn thuở của thơ văn Việt Nam. Chúng ta đã bắt gặp tổ quốc chìm trong đau thương, mất mát qua thơ Hoàng Cầm; gặp tổ quốc đang đổi mới từng ngày qua thơ Nguyễn Đình Thi. Nhưng có lẽ tổ quốc được nhìn từ nhiều khía cạnh, đầy đủ và trọn vẹn nhất qua bài thơ “tổ quốc” của Nguyễn Khoa Điềm. Hình hài tổ quốc từ khi được sinh ra cho tới khi phải trải qua bao nhiêu song gió chiến tranh được tái diễn sinh động qua một hồn thơ tinh ý, phóng khoáng của Nguyễn Khoa Điềm

Tác giả nhìn tổ quốc từ nhiều khía cạnh, trải qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử. tổ quốc là tên thường gọi thiêng liêng, bình dị nhưng chất chứa bao nhiêu ngọn nguồn của cảm xúc chính tác giả. Bài thơ được mở đầu bằng những vần thơ nhẹ nhàng, tinh ý đưa người đọc trở về với những ngày đầu mới khai sinh:

Khi ta lớn lên tổ quốc đã có rồi

tổ quốc có trong những cái ngày xửa

Ngày xưa mẹ thường hay kể

tổ quốc bắt đầu bằng miếng trầu hiện nay bà ăn

tổ quốc lớn lên khi dân mình biết trồng tre đánh giặc.

tổ quốc hiện lên qua những câu thơ thật bình dị, gần gũi, nó không phải là một khái niệm trừu tượng mà là một khái niệm hiện hữu hằng ngày trong cuộc sống của mỗi chúng ta. Tác giả sử dụng từ “khi” để ghi lại sự phát hành của khái niệm “tổ quốc”. Từ khi mỗi chúng ta sinh ra thì tổ quốc đã có rồi. Sau câu thơ ấy, tác giả bắt đầu lí giải nguồn gốc của tổ quốc mà mỗi người đều mong muốn hiểu thấu được.

Giọng thơ dịu nhẹ, ngọt ngào dẫn dụ người đọc về với những “ngày xưa ngày xưa”. Đó như một nốt nhạc của quá khứ trở về trong những suy nghĩ của con người. Từ :ngày xửa, ngày xưa” ghi lại những điều gì đó xa xưa, rất xưa, không xác định thời gian cụ thể, chỉ biết rằng nó đã có từ nhiều năm. tổ quốc đồng thời hình thành từ khi dân mình biết đánh giặc. Là những con người đó làm nên tổ quốc…

tổ quốc còn gắn liền với cuộc sống bình dị, thân quen của người nông dân Việt Nam. Tác giả không những dừng lại ở đó, tổ quốc còn được lý giải đó là thành quả của công cuộc lao động để xây dựng và phát triển:

Cái kèo cái cột thành tên

Hạt gạo phải một nắng hai sương xay giã dần sàng

tổ quốc có từ ngày đó

Một một dụng cụ được tạo ra để phục vụ cho đời sống sản xuất cũng như sinh hoạt của con người như “kèo, cột” đều gắn bó với lịch sử phát hành của tổ quốc. Rất bình dị, rất chân thực nhưng nó như là một sự giải thích đúng đắn. Nguyễn Khoa Điềm như dẫn người đọc đi vào những cung bậc tình cảm khác của tổ quốc, đó là chuyện tình yêu lứa đôi e ấp nhưng tha thiết và mặn nồng:

Đất là nơi anh đến trường

Nước là nơi em tắm

tổ quốc là nơi ta hò hẹn

tổ quốc là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm

tổ quốc không những hiện hiện trong không gian văn hóa, phong tục tập quán của con người mà còn hiện lên trong những tình yêu lứa đôi mặn nồng, tha thiết nhất. Tác giả đã cắt nghĩa “tổ quốc” thành hai từ “đất” và “nước” để lí giải cụ thể ý nghĩa sâu sắc của từng từ. Đây rất có thể coi là sự tinh ý và đầy thi vị của Nguyễn Khoa Điềm. Nhưng dù được tách ra thì tổ quốc vẫn là một khái niệm trọn vẹn và đầy ý nghĩa sâu sắc nhất.

tổ quốc còn được mở ra theo chiều dài của lịch sử và chiều dài của không gian văn hóa, của những con người vẫn còn đó đấy trằn trọc tha thiết đi tìm hình bóng quê nhà. tổ quốc được hình thành từ những mẩu truyện xa xưa, từ những điển tích điển cố mà người đời sau vẫn luôn nhắc nhở nhau.

Hình ảnh “con chim phượng hoàng”, “núi bà đen, bà điểm”, “lạc long quân âu cơ” đó là minh chứng cho sự phát triển nhiều thăng trầm nhưng đáng tự hào của chúng ta. Nhớ về cội nguồn, nhớ về những ngày xưa vất vả đó là đạo lí, truyền thống uống nước nhớ nguồn mãnh liệt của nhân dân ta. tổ quốc trong ý niệm của Nguyễn Khoa Điềm còn là sự tiếp nối truyền thống:

Những ai đó đã khuất

Những ai hiện nay

Yêu nhau và sinh con đẻ cái

Gánh vác phần người đi trước để lại

Dặn dò con cháu chuyện mai sau

Trong sự hình thành và phát triển, bề dày văn hóa lịch sử ngày càng được khẳng định. Những con người đã ngã xuống vì tổ quốc, những con người thế hệ mai sau cần phải cố gắng gìn giữ và phát huy được truyền thống đẹp đẽ đó. Nguyễn Khoa Điềm đã có cái nhìn đa chiều về tổ quốc từ khía cạnh đời thường, khía cạnh lịch sử, khía cạnh không gian và thời gian mang đến cho người đọc nhận thức đúng đắn nhất về tổ quốc mà chúng ta đang sống và góp sức.

Hơn hết tác giả còn khẳng định

Trong anh và em hôm nay

Đều có một phần tổ quốc

rất có thể nói tổ quốc đã đi vào và in hằn vào máu thịt của mỗi người, nhắc nhở trách nhiệm và nghĩa vụ của chúng ta về công cuộc xây dựng và bảo vệ sự vững mạnh của tổ quốc này. tổ quốc còn được Nguyễn Khoa Điềm tích lũy thành một khái niệm sâu sắc:

Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi

Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha

Ôi tổ quốc sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy

Những cuộc đời đã hóa núi sông ta

Một quan niệm sâu sắc, giàu giá trị nhân sinh quan khiến cho người đọc không thể phủ nhận sự tồn tại của tổ quốc là một thực tiễn. tổ quốc còn hình tượng cho long thành kính, sự biết ơn đến những người đã ngã xuống vì hòa bình, tự do cho hôm nay:

Họ đã sống và chết

Giản dị và bình tâm

Không ai nhớ mặt đặt tên

Nhưng họ đã làm ra tổ quốc

Lại thêm một sự lí giải đúng đắn cho định nghĩa “tổ quốc”, những con người đó họ dù chết nhưng trái tim họ vẫn còn đó đấy sống mãi trong cuộc sống của những người ở lại. Nhưng ở hai câu thơ cuối rất có thể nói Nguyễn Khoa Điềm đã đưa ra định nghĩa đúng đắn và sâu sắc nhất về tổ quốc:

tổ quốc này là tổ quốc của nhân dân

tổ quốc của nhân dân, tổ quốc của ca dao thần thoại.

Thật vậy, nhân dân đó là chủ nhân của tổ quốc. Bởi vậy tổ quốc này phải thuộc về nhân dân. Tư tưởng của tác giả rất tiến bộ, rất đời thường và rất sâu sắc.

Như vậy Nguyễn Khoa Điềm bằng những lý lẽ và dẫn chứng đầy thuyết phục đã khẳng định được vị trí, vai trò cực kì to lớn của tổ quốc trong cuộc sống của mỗi con người. Gấp trang sách lại nhưng những hình ảnh về tổ quốc vẫn còn đó đấy sống mãi trong lòng người đọc.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

7


Bình An

Bài văn phân tích tác phẩm “tổ quốc” của Nguyễn Khoa Điềm số 7

Nguyễn Khoa Điềm là một trong những khuôn mặt tiêu biểu thuộc thế hệ thơ trẻ giai đoạn chống Mỹ cứu nước. Thơ ông thường có sự phối kết hợp hài hòa giữa cảm xúc nồng nàn và suy tư sâu lắng, giữa chất trữ tình và chất chính luận. Đoạn trích “tổ quốc” đã cho người đọc thấy rõ được những tính chất của thơ ông. Đặc biệt đoạn thơ đầu của bài thơ nhà thơ đã giải thích tổ quốc bằng những hình ảnh giản dị hằng ngày:

“Khi ta lớn lên tổ quốc đã có rồi….

tổ quốc có từ ngày đó”.

Câu thơ đầu cất lên đầy giản dị và mộc mạc: “Khi ta lớn lên tổ quốc đã có rồi”. Câu thơ ngỡ như một câu nói bình thường, đưa người đọc trở về những hình ảnh thuở xưa của tổ quốc. Tổ quốc này đã phôi thai và hình thành suốt chiều dài lịch sử, khi con người xuất hiện, lớn lên thì tổ quốc đã có rồi. “tổ quốc có trong…mẹ thường hay kể.”

Hình ảnh tổ quốc hiện lên qua những lời kể của mẹ. Cụm từ “ngày xửa ngày xưa” gợi trong chúng ta những nỗi niềm cổ tích xa xăm nhưng thật diệu kì. Nơi ấy có cô tấm, chàng Thạch Sanh, một toàn cầu lung linh huyền ảo ấy ta đã có dịp lạc vào từ thuở ấu thơ.

“tổ quốc bắt đầu…bà ăn”. tổ quốc vốn lớn lao nhưng hiện nay cũng ẩn mình vào trong miếng trầu bà ăn. Và chính miếng trầu ấy lại chứa đựng cả một nền văn hóa của người Việt Nam ta. Người xưa có câu “miếng trầu là đầu mẩu truyện” nó thể hiện sự giao tiếp, là tín hiệu của hạnh phúc nhân duyên. Miếng trầu đã đi sâu và nếp cảm, nếp nghĩ của người dân Việt từ bao đời nay. Qua hình ảnh này chúng ta cũng thấy được chiều dài của lịch sử, của tổ quốc, cội nguồn nơi chúng ta sinh sống.

“tổ quốc lớn lên…đánh giặc”. Tổ quốc vững mạnh và trưởng thành theo từng năm tháng, phải trải qua những năm tháng đấu tranh dựng nước và giữ nước. Câu thơ trên mang hơi thở của Thánh Gióng là người đã sử dụng tre làng để đánh giặc. Và bất kỳ một người Việt Nam nào không thể không biết đến truyền thuyết Thánh Gióng ấy. Và với lời thơ bình dị của Nguyễn Khoa Điềm, tổ quốc còn hiện lên qua những phong tục cổ truyền của người Việt Nam: “Tóc mẹ thì bới sau đầu”.

Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam xuất hiện với mái tóc búi sau trở thành nét đẹp, nét truyền thống của phụ nữ Việt. Tập tục này không những tôn lên vẻ đẹp đoan trang của người phụ nữ mà còn thể hiện nét đẹp đặc trưng trong bản sắc văn hóa của người Việt.

Trong cảm nhận của Nguyễn Khoa Điềm, hình tượng tổ quốc cũng gắn liền với những đạo lý son sắc thủy chung mà tính nghĩa: “Cha mẹ…gừng cay muối mặn”. Người Việt Nam ta vốn coi trọng nghĩa tình, sống có trước có sau, đặc biệt là sự thủy chung trong tình yêu và tình nghĩa vợ anh xã. Đặc biệt, sự vận dụng câu ca dao”gừng cay muối mặn” là sự có chủ ý của nhà thơ.

Tác giả tiếp tục phát hiện hình ảnh tổ quốc có mặt trong những sự vật rất đỗi bình thường “cái kèo, cái cột thành tên”. Thì ra tổ quốc to lớn, vĩ đại như vậy chẳng ở đâu xa, nó gắn liền với những công việc lao động thường ngày nhất với con người.

“Hạt gạo…sàng”. Tác giả sử dụng thành ngữ “một nắng hai sương” phối kết hợp với phép liệt kê đã khắc sâu sự vất vả của người nông dân để làm ra hạt thóc, hạt gạo. Đồng thời , câu thơ cũng cho thấy những vẻ đẹp phẩm chất của người lao động Việt nam. Đó là sự chịu thương, chịu khó, sự siêng năng của người dân trên dải đất hình chữ S này.

tổ quốc đã được nhà thơ lí giải cứ nghĩa theo cảm nhận của riêng mình. Đoạn thơ thể hiện niềm tự hào, trân trọng sâu sắc của tác giả dành riêng cho Tổ quốc mình. Đoạn thơ rất thành công với thể thơ tự do mỗi câu như một cảm xúc trào dâng từ đáy lòng thi sĩ.

Nhà thơ đã vận dụng thành công những vật liệu văn hóa văn học dân gian. Và khi kết thúc những câu thơ ấy, trong lòng người đọc cũng xuất hiện hình ảnh tổ quốc vừa quen thuộc, vừa mới lạ, vừa thiêng liêng, vừa gần gũi và biết bao mến thương.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

8


Bình An

Bài văn phân tích tác phẩm “tổ quốc” của Nguyễn Khoa Điềm số 8

Mặt đường khát vọng là tập trường ca hùng tráng được Nguyễn Khoa Điềm hoàn thành ở chiến khu Trị – Thiên năm 1971. Bản trường ca khái quát quy trình thức tỉnh của tuổi trẻ những đô thị vùng tạm chiến miền Nam. Họ nhận rõ bộ mặt xâm lược của đế quốc Mỹ; hướng về nhân dân, về tổ quốc; ý thức được sứ mệnh của thế hệ mình, vực dậy xuống đường đấu tranh hòa nhịp với trận đánh đấu của toàn dân tộc. Đoạn trích tổ quốc thuộc phần đầu chương V của trường ca Mặt đường khát vọng.

tổ quốc rất có thể coi là chương hay nhất trình diễn sự cảm nhận và lý giải của tác giả về tổ quốc, cũng đồng thời thể hiện sâu sắc tư tưởng cốt lõi của cả bản trường ca, đó là tư tưởng “tổ quốc của Nhân dân”. Trình tự triển khai mạch suy nghĩ và cảm xúc của tác giả khá chặt chẽ nhưng cũng rất phóng túng.

Đoạn thơ mở đầu bằng những lời định nghĩa say sưa về tổ quốc. tiếp theo là sự hình dung về tổ quốc qua chiều dài thời gian – lịch sử, qua về rộng của không gian – lãnh thổ địa lí và qua chiều sâu văn hóa – phong tục, lối sống, tính cách của người dân Việt Nam, với cùng một niềm tự hào sâu sắc.

Từ ba bình diện này, lời thơ hào hứng, giàu chất suy tư nhắm đến tư tưởng chủ đạo: “tổ quốc này là tổ quốc Nhân dân”. Mạch cảm xúc và suy tư của bài thơ trôi chảy một cách tự nhiên, vừa chặt chẽ vừa đầy hứng khởi, đồng thời lại cũng có thể có những vang động sâu xa.

Trong phần đầu của đoạn trích, bằng hình thức trữ tình – chính luận, nhà thơ đã đưa ra định nghĩa riêng của tôi về tổ quốc bằng những cảm nhận về tổ quốc trong cổ tích, ca dao. Lời thơ định nghĩa thoát khỏi những khái niệm khó khăn để trở thành một cuộc chuyện trò gần gũi, thân thương mà bay bổng. Mức độ đậm đặc của những vật liệu lấy từ cổ tích, truyền thuyết, ca dao, dân ca, huyền thoại…. tạo cho đoạn thơ đầu một âm hưởng đầy quyến rũ. Những câu thơ như:

Khi ta lớn lên

tổ quốc đã có rồi

tổ quốc có trong những cái “Ngày xửa ngày xưa…”mẹ thường hay kể

Đoạn thơ đầu làm mờ đi khái niệm tổ quốc là của những vương triều. Ngay từ lúc sơ khai, nó đã là của nhân dân. Định nghĩa tổ quốc bằng sự lựa chọn vật liệu từ văn hóa dân gian, đó là một ẩn ý của Nguyễn Khoa Điềm bởi văn hóa dân gian của nhân dân. Cách định nghĩa của Nguyễn Khoa Điềm là một sự khám phá mới mẻ, độc đáo tạo ra sự hấp dẫn và thú vị đối với người đọc.

Cách định nghĩa về tổ quốc của Nguyễn Khoa Điềm đã chạm được vào những gì thiêng liêng nhất, lớn lao nhất nhưng cũng lại gần gũi và thân thiết nhất đối với mỗi chúng ta. Nó dễ gợi cho ta những suy ngẫm về quá khứ, về lòng tự hào dân tộc.

Và bởi thế, nó thức tỉnh ý thức dân tộc và tinh thần trách nhiệm đối với tổ quốc, với nhân dân trong những chúng ta.

Phần sau của đoạn thơ từ “Những người vợ nhớ anh xã” đến hết đoạn trích là phần triệu tập làm nổi trội tư tưởng “tổ quốc của nhân dân”. Trong phần này, tư tưởng đã quy tụ mọi cách nhìn nhận và mang lại những phát hiện sâu sắc và mới mẻ của tác giả về địa lí, lịch sử và văn hóa của tổ quốc.

Những người vợ nhớ anh xã còn góp cho tổ quốc những núi Vọng Phu

Cặp vợ anh xã yêu nhau góp nên hòn Trống Mái

Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại

Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương

Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm

Người học trò nghèo góp cho tổ quốc mình núi Bút, non Nghiên.

Quả là những phát hiện rất mới về thiên nhiên tổ quốc. Những núi Bút, non Nghiên, núi Vọng Phu, hòn Trống Mái… vốn đã rất quen thuộc này bỗng trở thành thật lạ. Nó không phải là sản phẩm của tạo hóa mà là tâm hồn, là số phận của nhân dân.

Đến đây, thiên nhiên, tạo hóa không phải là cái làm nảy sinh ra những mẩu truyện đầy huyền thoại mà chính những mẩu truyện về những tâm hồn, những số phận của con người trong quá khứ làm cho những danh thắng kia có tâm hồn, làm cho nó sống mãi. Cái nhìn rất thơ của tác giả đi đến một khái quát đầy thấm thía:

Ôi tổ quốc sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy

Những cuộc đời đã hóa núi sông ta…

Tiếp nối những câu thơ khám phá độc đáo về thiên nhiên là những câu thơ khám phá vẻ đẹp tâm hồn, tính cách Việt Nam, cũng như vai trò, vị trí của con người Việt Nam trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Đó là những con tình nhân thương sâu sắc, thủy chung tình nghĩa; là những con người siêng năng lao động, anh hùng trong đánh giặc; là những con người “không ai nhớ mặt đặt tên” nhưng chính họ “đã làm ra tổ quốc”.

Họ là những người lặng lẽ làm nên lịch sử, lặng lẽ gìn giữ những nét văn hóa của dân tộc qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử dân tộc. Từ những khái quát giản dị nhưng đầy tính nhân văn, tác giả khẳng định:

Để tổ quốc này là tổ quốc Nhân dân

tổ quốc của Nhân dân, tổ quốc của ca dao thần thoại.

Đó là một chân lí. Một chân lí đã được nhận thức trong suốt quy trình phát triển lâu dài của lịch sử nhưng chỉ đến văn học Việt Nam hiện đại, nó mới đạt đến đỉnh cao, mới cất lên thành những tuyên ngôn đầy tự hào và vang động sâu xa. Làm nên sự thành công của đoạn trích tổ quốc, ngoài sự độc đáo đầy phóng túng của thể thơ tự do còn phải nói về tài năng xuất sắc của Nguyễn Khoa Điềm trong việc tiếp thu và sử dụng những vật liệu dân gian. Bài thơ là sự hòa nhập một cách thật nhuần nhuyễn giữa hình thức trữ tình – chính trị với những vật liệu từ ca dao, cổ tích, huyền thoại…

Bằng sự vận dụng đầy sáng tạo hình thức thơ tình – chính trị, đoạn trích tổ quốc quy tụ mọi cảm nhận, mọi cái nhìn, quy tụ vốn liếng sách vở cũng như những trải nghiệm cá nhân của người nghệ sĩ để làm nên một tuyên ngôn về tư tưởng, về nhận thức của cả một thế hệ nghệ sĩ, ấy là tư tưởng “tổ quốc của nhân dân”.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

9


Bình An

Bài văn phân tích tác phẩm “tổ quốc” của Nguyễn Khoa Điềm số 9

Cùng với những nhà thơ trong thế hệ chống Mỹ lúc bấy giờ, Nguyễn Khoa Điềm Hình như cũng hướng ngòi bút của tôi đến một chủ đề lớn lao của thơ ca đương thời đó không gì khác đó là tổ quốc. Tuy nhiên, rất có thể nói rằng hình ảnh “tổ quốc” trong thơ Nguyễn Khoa Điềm không những có đau thương mất mát hay chỉ có những cảnh sơn hào hùng vĩ mà “tổ quốc” hiển hiện lên trọn vẹn qua những suy nghĩ và cảm nhận hết sức mới mẻ.

Qua đoạn trích “tổ quốc” trong trường ca “Mặt đường khát vọng” của ông thì đây đó là một định nghĩa đủ đầy về tổ quốc và qua đó cũng thể hiện sâu sắc tư tưởng cốt lõi của tác phẩm: tổ quốc là của nhân dân. Mở đầu bài thơ đó là một lời tâm tình sâu lắng đưa ta về với cội nguồn:

Khi ta lớn lên tổ quốc đã có rồi

tổ quốc có trong những cái ngày xửa

Ngày xưa mẹ thường hay kể

tổ quốc bắt đầu bằng miếng trầu hiện nay bà ăn

tổ quốc lớn lên khi dân mình biết trồng tre đánh giặc

Tóc mẹ thì bới sau đầu

Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn

Cái kèo cái cột thành tên

Hạt gạo phải một nắng hai sương xay giã dần sàng

tổ quốc có từ ngày đó…

Trong đoạn thơ này của Nguyễn Khoa Điềm Hình như ta rất có thể thấy răng, tổ quốc không phải là cái gì trừu tượng, xa xôi khó nắm bắt mà tổ quốc đó là những gì thân thuộc và gần gũi nhất. tổ quốc có từ trong những mẩu truyện ngày xửa ngày xưa, trong miếng trầu của bà ăn, trong dáng tre bất khuất kiên định, trong những phục tục tập quán, trong hạt gạo nấu những bữa cơm từng ngày… đều hiện hình lên một tổ quốc Việt Nam rất đỗi anh hùng, tình nghĩa, giản dị mà thân thương nhất. Và đây rất có thể nói đó là một định nghĩa, định danh về tổ quốc hoàn toàn mới và hoàn toàn thiết thực nhất, rõ ràng nhất.

Với nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm, “tổ quốc” không những là những khoảng giới hạn về không gian địa lý chật hẹp nữa mà ở đây nó còn có chiều dài thời gian lịch sử và chiều sâu văn hóa. Không những thế, “tổ quốc” còn đó là tình yêu đôi lứa, có trong tình yêu đôi lứa:

Đất là nơi anh đến trường

Nước là nơi em tắm

tổ quốc là nơi ta hò hẹn

tổ quốc là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm…

Đất và nước Hình như tách riêng, và từng phần đều lại như đã tượng trưng cho những điều gần gũi nhất. “Là nơi anh đến trường” hay “là nơi em tắm” từng ngày. Thế nhưng để rồi khi “ta hò hẹn” thành một đôi trọn vẹn thì cũng như tổ quốc gộp lại vẹn tròn lại thành một. Và rất có thể nói rằng với phát hiện mới mẻ này, Nguyễn Khoa Điềm đã chỉ ra rằng tổ quốc không những bên ta, xung quanh ta và còn có cả ở trong ta nữa.

tổ quốc còn đó là nơi mở đầu cho những mẩu truyện xa xưa, cho những câu ca dao tục ngữ, điển tích điển cố và tất thảy mọi sự sinh thành. Và hình ảnh đặc sắc “con chim phượng hoàng”, “núi Bà Đen, Bà Điểm”, “Lạc Long Quân Âu Cơ” là những minh chứng độc đáo cho tổ quốc hào hùng nghìn năm văn hiến của chúng ta. Nhớ về tổ quốc cũng như đó là một cách để ta rất có thể nhớ về cội nguồn, hiểu được vì sao chúng ta được sinh ra. Chính vì thế, tổ quốc trong ý niệm của Nguyễn Khoa Điềm còn là sự tiếp nối truyền thống:

Những ai đó đã khuất

Những ai hiện nay

Yêu nhau và sinh con đẻ cái

Gánh vác phần người đi trước để lại

Dặn dò con cháu chuyện mai sau…

Trong anh và em hôm nay

Đều có một phần tổ quốc

Biết bao thế hệ anh cha ta đã hi sinh, đã ngã xuống để bảo vệ tổ quốc, bảo vệ núi sông bờ cõi. Đó còn đó là cả một chiều dài lịch sử hào hùng rất tự hào của dân tộc ta. Chính vì thế, con cháu đời sau phải tiếp tục gìn giữ truyền thống ấy. với cùng một truyền thống yêu nước, thương nòi, luôn luôn sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ non sông cho những thế hệ về sau. Và cho tới thời đại của ngày hôm nay, “trong và em” “đều có một phần tổ quốc”.

Hình như chính phần tổ quốc ấy là phần máu thịt, là một phần trách nhiệm phải giữ gìn và xây dựng, phần tình yêu để bảo vệ tổ quốc cho con cháu mai sau. Vì có phải những người đã không quản ngại thân mình hy sinh cho tổ quốc, làm nên hình hài của tổ quốc cho nên:

Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi

Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha

Ôi tổ quốc sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy

Những cuộc đời đã hóa núi sông ta

Khi nói về 4000 năm lịch sử oanh liệt hào hùng của tổ quốc, Nguyễn Khoa Điềm không hề kể về những vương triều to lớn hay những anh hùng nổi tiếng và lại nhấn mạnh “người làm ra tổ quốc” lại đó là những con người bình dị đời thường và họ là những người vô danh. Chính họ chứ không phải ai khác, không phải là một ông vua bà chúa nào, họ đã gìn giữ và truyền lại hạt lúa, ngọn lửa, tiếng nói, ngôn ngữ cho đời sau. Và từ chính những con người vô danh làm nên tổ quốc bao năm qua đã giúp tác giả khẳng định một chân lý:

tổ quốc này là tổ quốc của nhân dân

tổ quốc của nhân dân, tổ quốc của ca dao thần thoại

Đối với câu thơ sau, hai vế Hình như song song nhân dân – tổ quốc lại càng khẳng định tổ quốc đó là kết tinh những giá trị tinh thần cao quý trong đời sống trí tuệ và tình cảm của nhân dân. Những giá trị ấy cũng như đã kết tinh lại trong những câu ca dao, tục ngữ, trong những mẩu truyện thần thoại cổ tích của cha ông ta để lại. Và định nghĩa về tổ quốc đến đây vừa giản dị nhưng cũng vừa lớn lao, sâu sắc biết bao nhiêu. tổ quốc đã Hình như đã được khẳng định là của nhân dân và cũng là của anh, của em, và:

Em ơi em tổ quốc là máu xương của tôi

phải ghi nhận gắn bó và san sẻ

phải ghi nhận hóa thân cho dáng hình xứ sở

Làm nên tổ quốc muôn đời

Đoạn thơ thân tình như một lời nhắn nhủ thiết tha đằm thắm mà rất đỗi chân thành. Bởi sự sống của chúng ta không những do cha mẹ sinh thành mà còn vì tổ quốc nuôi dưỡng. Chính vì thế mà trong những chúng ta cần phải có trách nhiệm gìn giữ, phát triển nó và truyền lại cho những thế hệ tiếp theo.

tổ quốc đã được xem là một đề tài, cảm hứng chủ đạo của thơ ca giai đoạn kháng chiến chống Mĩ. Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm Hình như cũng đã nhận được thức sâu sắc vai trò và sự đóng góp to lớn của nhân dân trong cuộc đấu tranh trường kì và cực kì ác liệt này.

Chính vì thế rất có thể nói rằng tư tưởng tổ quốc của nhân dân từ trong văn học truyền thống đã được nhà thơ phát triển đến đỉnh cao, mang tính dân chủ sâu sắc. Dùng vật liệu văn hóa dân gian được sử dụng nhuần nhuyễn, biến đổi linh hoạt đầy sáng tạo đó là nét đặc sắc thẩm mĩ và thống nhất với tư tưởng “tổ quốc của nhân dân, tổ quốc của ca dao thần thoại” của bài thơ.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

10


Bình An

Bài văn phân tích tác phẩm “tổ quốc” của Nguyễn Khoa Điềm số 10

Nguyễn Khoa Điềm sinh vào năm 1943 trong một gia đình trí thức có truyền thống yêu nước và cách mạng ở thôn Ưu Điềm, xã Phong Hòa, huyện Phong Điển, tĩnh Thừa Thiên – Huế. Quê gốc của ông ở làng An Cựu, xã Thủy An. Ông học tập và trưởng thành trong những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, rồi trở về Nam tham gia chiến đấu chống Mĩ. Sau 1975, Nguyễn Khoa Điềm hoạt động văn nghệ và chính trị ở Huế.

Ông được bầu làm Tổng thư kí Hội nhà văn Việt Nam khóa V và Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin. Từ năm 2001 đến 2006, ông là ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, trưởng phòng ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương. Nguyễn Khoa Điềm thuộc thế hệ những nhà thơ mà tài năng và tên tuổi được khẳng định trong giai đoạn chống Mĩ cứu nước. Thơ ông hấp dẫn bởi sự phối kết hợp giữa xúc cảm nồng nàn và suy tư sâu lắng về tổ quốc, về dân tộc. Năm 2000, ông vinh hạnh được trao tặng phần thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.

Tác phẩm chính: Đất ngoại ô (thơ, 1972), Mặt đường khát vọng (trường ca, 1974), Ngôi nhà có ngọn lửa ấm (thơ, 1986), Cõi lặng (thơ, 2007). Trường ca Mặt đường khát vọng được tác giả sáng tác ở chiến khu Trị – Thiên năm 1971, in lần đầu xuân năm mới 1974, nội dung phản ánh sự thức tỉnh của tuổi trẻ đô thị vùng tạm bị chiếm ở miền Nam đang xuống đường đấu tranh hòa nhịp với trận đánh đấu chống đế quốc Mĩ xâm lược; đồng thời thể hiện những suy ngẫm và quan điểm của nhà thơ về tổ quốc, dân tộc.

Đoạn trích tổ quốc nằm ở phần đầu chương V của trường ca là một trong những đoạn thơ hay về đề tài tổ quốc trong thơ ca Việt Nam hiện đại. Tác giả bày tỏ suy nghĩ và tình cảm tha thiết, sâu sắc của bản thân về tổ quốc trên nhiều bình diện địa lí, lịch sử, văn hóa, phong tục,… với tư tưởng bao trùm: tổ quốc của Nhân dân

Đoạn trích chia làm hai phần: Phần một: Từ đầu đến… Làm nên tổ quốc muôn đời: cảm nhận của tác giả về tổ quốc trên những phương diện cuộc sống của con người: địa lí, lịch sử, văn hóa, phong tục. Phần hai: Tác giả đúc kết nên một chân lí khái quát: tổ quốc của Nhân dân.

Giữa hai phần gần như không tồn tại sự tách biệt rõ ràng về nội dung vì ở phần nào tác giả cũng thể hiện sự cảm nhận về tổ quốc trên nhiều mặt, nhưng mỗi phần có một trọng tâm không giống nhau trong nội dung tư tưởng và cảm xúc. Ở phần 1, tổ quốc được tác giả cảm nhận từ những gì gần gũi, bình dị trong cuộc sống hằng ngày, sau đó mở rộng ra với Thời gian đằng đẵng – Không gian mênh mông trong những truyền thuyết về thời dựng nước. sau cùng, cảm nhận của nhà thơ hướng vào sự hiện diện của tổ quốc trong những con người; từ đó nhắc nhở trách nhiệm của mỗi công dân đối với tổ quốc.

Ở phần sau, tổ quốc được nhà thơ đúc kết thành quan niệm: tổ quốc của Nhân dân, chính Nhân dân đã làm nên tổ quốc. Khái niệm tổ quốc được gợi nên từ những thắng cảnh thiên nhiên, những địa danh gắn với những tên người bình dị… tổ quốc gắn với bề dày lịch sử bốn nghìn năm với những lớp người không nhớ mặt đặt tên.

Họ từng sống rất giản dị và bình tâm, nhưng cũng chính họ là những người đã làm nên tổ quốc, truyền lại cho con cháu muôn đời. sau cùng, mạch suy tưởng của tác giả dẫn đến một chân lí khái quát: tổ quốc của Nhân Dân, tổ quốc của ca dao thần thoại.

Khác với những nhà thơ trước, khi viết về tổ quốc thường dùng những hình ảnh kì vĩ, mĩ lệ, mang tính hình tượng, Nguyễn Khoa Điềm đã lựa cách thể hiện rất tự nhiên và bình dị:

Khi ta lớn tên tổ quốc đã có rồi

tổ quốc có trong những cái “ngày xửa ngày xưa…”mẹ thường hay kể

tổ quốc bắt đầu với miếng trầu hiện nay bà ăn

tổ quốc lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc

Tóc mẹ thì bới sau đầu

Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn

Cái kèo, cái cột thành tên

Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng

tổ quốc có từ ngày đó…

Trong đoạn thơ này, Nguyễn Khoa Điềm bày tỏ cảm xúc và suy tưởng của tôi về tổ quốc dưới hình thức trò chuyện tâm tình, tạo ra một cảm giác gần gũi, thân thiết. Nhà thơ lấy vật liệu từ văn hóa dân gian, từ ca dao, tục ngữ, từ đời sống quen thuộc hằng ngày. Bởi vậy nên không gian nghệ thuật được mở rộng ra nhiều chiều và hình tượng thơ trở thành trữ tình, bay bổng.

tổ quốc ở ngay trong cuộc sống của mỗi gia đình, từ lời kể chuyện ngày xửa ngày xưa của mẹ, từ những phong tục tập quán có từ nhiều năm: Miếng trầu hiện nay bà ăn, Tóc mẹ thì bới sau đầu. tổ quốc có từ khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc. tổ quốc hình thành từ tình nghĩa vợ anh xã thủy chung, Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn, từ quy trình lao động bền chắc của dân tộc; từ hình ảnh hạt gạo ta ăn hằng ngày thấm đẫm mồ hôi một nắng hai sương.

Câu thơ : Cái kèo cái cột thành tên diễn tả thời gian hơn là không gian. Phải bao năm tháng những vật dụng hằng ngày trong nhà mới có tên để gọi. Đấy cũng là quy trình sinh thành của tổ quốc từ không đến có, từ nhỏ hẹp tới lớn lao. toàn bộ những điều đó làm cho khái niệm tổ quốc trở thành gần gũi, thân thiết đối với mỗi con người.

rất có thể coi đoạn thơ mở đầu là câu reply cho câu hỏi: tổ quốc có tự lúc nào? Lịch sử nhiều năm của tổ quốc Việt Nam được cắt nghĩa không phải bằng sự nối tiếp của những triều đại phong kiến hay những sự kiện lịch sử mà bằng những câu thơ gợi nhớ đến những truyền thống có từ xa xưa: Trầu cau (miếng trầu hiện nay bà ăn), Thánh Gióng (dân mình biết trồng tre mà đánh giặc),… đến nền văn minh lúa nước sống Hồng cùng những phong tục, tập quán có từ nhiều năm. Đó đó là tổ quốc được cảm nhận từ chiều sâu, từ bề dày của văn hóa và lịch sử.

Những câu thơ chính luận – trữ tình tiếp theo vẫn reply cho câu hỏi: tổ quốc là gì ? Đó là sự cảm nhận về tổ quốc trong sự thống nhất, hài hòa giữa những phương diện địa lí và lịch sử, không gian và thời gian nhưng không dừng lại ở mức khái niệm mà nâng cao lên một tầng ý nghĩa sâu sắc sâu xa hơn. Hình tượng tổ quốc thiêng liêng được cảm nhận trải qua cách nhìn nhận, suy nghĩ của tuổi trẻ nên vừa cụ thể, vừa mới mẻ và hết sức táo bạo:

Đất là nơi anh đến trường

Nước là nơi em tắm

tổ quốc là nơi ta hò hẹn

Hình ảnh con đường đến trường, bến sông em tắm, nơi lứa đôi yêu nhau hò hẹn… gợi ra không gian cụ thể, thân quen, nhưng cũng không kém phần đẹp đẽ, thơ mộng. tổ quốc gắn bó anh và em, gắn bó mỗi con người với cuộc đời. tổ quốc là không gian tồn tại của cả xã hội người Việt qua bao nhiêu thế hệ. Rộng lớn hơn nữa, tổ quốc là không gian mênh mông của núi sống, rừng biển:

tổ quốc là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm

Đất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc”

Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi “

những câu thơ trên lấy ý từ những bài ca dao miền Bắc và những câu hò Bình Trị Thiên để mở ra một không gian lãng mạn, bay bổng của một tình yêu say đắm, thủy chung. Trong mắt của những người trẻ tuổi, tổ quốc là một không gian thơ mộng với bao kỉ niệm dịu ngọt của tình yêu. tổ quốc còn được tác giả cảm nhận theo nhiều chiều : không gian và thời gian, địa lí và lịch sử:

Thời gian đằng đẵng

Không gian mênh mông,

tổ quốc là nơi dân mình sum họp.

tổ quốc tồn tại trong sâu thẳm của kí ức, từ thời nảy sinh huyền thoại về mối duyên kì ngộ giữa Lạc Long Quân và Âu Cơ:

Đất là nơi chim về

Nước là nơi Rồng ở

Lạc Long Quân và Âu Cơ

Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng.

tổ quốc đã trải qua bốn nghìn năm lịch sử. Dân tộc ta dã xây dựng nên nhiều truyền thống và nét đẹp văn hóa Việt Nam. Hai tiếng đồng bào gợi tình cảm máu thịt và tinh thần đoàn kết nhất trí. tổ quốc mấy nghìn năm lịch sử được chuyển giao qua nhiều thế hệ:

Những ai đó đã khuất

Những ai hiện nay

Yêu nhau và sinh con đẻ cái

Gánh vác phần người đi trước để lại

Dặn dò con cháu chuyện mai sau

Hằng năm ăn đâu làm đâu

Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ

Huyền thoại Lạc Long Quân và Âu Cơ, truyền thuyết Hùng Vương và ngày giỗ Tổ… toàn bộ đều nói lên chiều sâu, bề dày lịch sử của tổ quốc Việt Nam.tổ quốc còn được tác giả cảm nhận trong sự thống nhất giữa những phương diện văn hóa, truyền thống, phong tục, trong cái hằng ngày và cái vĩnh hằng, trong đời sống của mọi cá nhân và cả xã hội, ở chiều rộng của không gian địa lí và chiều dài của thời gian lịch sử.

Đến cuối phần một, cảm hứng thơ dẫn dắt tác giả đến sự chiêm nghiệm, suy ngẫm sâu sắc về tổ quốc: Trong anh và em hôm nay – Đều có một phần tổ quốc.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Từ khóa: Top 10 Bài văn phân tích tác phẩm “tổ quốc” của Nguyễn Khoa Điềm hay nhất, Top 10 Bài văn phân tích tác phẩm “tổ quốc” của Nguyễn Khoa Điềm hay nhất, Top 10 Bài văn phân tích tác phẩm “tổ quốc” của Nguyễn Khoa Điềm hay nhất

Có thể bạn quan tâm:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *